[Lưu ý] Hướng dẫn cách làm thơ cho thành viên trong diễn đàn

Status
Not open for further replies.

Tóc Xanh

Độc nhất vô nhị
Staff member
Vip Member
#1
Nhằm nâng cao trình độ và độ chính xác của thơ tôi xin trình bày lại một số luật thơ thường dùng được tổng hợp từ các nguồn đáng tin cậy trên mạng.

Cách làm thể thơ lục bát


-
Vần là yêu câu tối quan trọng đối với thể thơ lục bát, cho nên chúng ta cần nắm rõ vần trước khi làm thơ

+ Vần tiếng Việt bắt đầu bằng các nguyên âm, là nguyên âm hoặc nguyên âm ghép với các phụ âm đơn hoặc phụ âm kép.
Ví dụ: Từ TA có vần là A là nguyên âm A.
Từ THAN có vần là AN là nguyên âm A ghép với phụ âm đơn N.
Từ THANH có vần là ANH là nguyên âm A ghép với phụ âm kép NH.

+ Vần tiếng Việt nếu có hai nguyên âm đứng đầu thì tính cả hai nguyên âm đó. Ví dụ: Từ TOANH có vần là OANH.
Tuy nhiên cũng có trường hợp lại chỉ tính từ nguyên âm thứ hai. Việc xác định vần trong trường hợp này nên tra cứu bảng thống kê vần trên đây để tham khảo. Ví dụ:
- Từ “quện” có vần là “ên” chứ không phải “uên” vì trong bảng tra vần không có vần “uên”.

- Từ “giang” có vần là “ang” chứ không phải “iang” vì trong bảng tra vần không có vần “iang”.

- Các loại vần trong thơ lục bát:

- Một cặp thơ lục bát gồm hai câu: câu đầu 6 từ, câu hai 8 từ.
- Thơ lục bát có các loại vần sau:

Mỗi vần có hai dạng là VẦN BẰNG và VẦN TRẮC tùy thuộc vào các thanh (còn gọi là dấu) kèm theo nó.
Ví dụ: vần “an” có “an”, “àn” là vần bằng, “án”, “ản”, “ãn”,“ạn” là vần trắc.

+ Vần bằng: là vần không có thanh và vần có thanh huyền (tức dấu huyền). Ví dụ:

“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”

thì từ “ta”, “nhau” có vần không thanh (không dấu). Còn từ “là” có vần có thanh huyền (dấu huyền).

+ Vần bằng trong thơ lục bát: Từ thứ 6 câu lục và từ thứ 8 câu bát thường là vần bằng. Vần được nối tiếp từ vần chân câu lục sang vần lưng (tức vần yêu) của câu bát. Vần chân câu bát lại nối tiếp hiệp vần với vần chân câu lục tiếp sau...

+ Vần trắc: là các vần có một trong các thanh: sắc, hỏi, ngã, nặng. Ví dụ:

Tò vò mà nuôi con nhện
Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi

Các từ “nhện” và “quện” mang vần trắc. Trường hợp này rất ít khi dùng. Nếu sử dụng thì bao giờ từ thứ 6 của câu lục và câu bát cũng đều phải dùng thanh trắc.

+ Vần chân: là vần ở cuối câu lục và cuối câu bát. Ví dụ:

Một đời đuổi bóng bắt hình
Tóc sương mới ngộ ra mình ngu ngơ.

Thì vần “inh” trong từ “hình” ở câu lục, vần “ơ” trong từ “ngơ” ở câu bát là các vần chân.

+ Vần chính và vần phụ: Vần gieo ở câu trước là vần chính, vần gieo ở câu sau là vần phụ. Nếu vần câu sau cùng vần với vần câu trước thì cũng là vần chính.

+ Vần yêu: Là vần ở giữa câu bát, thường là vần ở từ thứ 6, nếu vần rơi vào từ thứ 4 thì từ thứ 6 phải chuyển ngược thanh với từ thứ 4. Ví dụ:


Yêu em anh nắm cổ tay
Anh hỏi câu nàylấy anh không.

+ Điệp vận: Vần tiếp sau giống hệt vần trước.

+ Phong yêu (lưng ong): Trong một câu mà vần lưng và vần chân đều cùng một vần thì gọi là phong yêu. Cần tránh phong yêu vì đọc lên nghe không hay. Ví dụ:

Cả đêm thao thức bồn chồn
Râm ran tiếng mõ dập dồn đầu thôn.

+ Lạc vận: Là vần chân câu lục sang vần lưng câu bát, vần chân câu bát sang vần chân câu lục tiếp theo lại không cùng vần, đọc nghe mất âm điệu. Ví dụ:

Mang danh kẻ sĩ Bắc
Lại chui vỏ ốc, lại chuồn đi đâu.


+ Vần thông và lân vận (vần ép): Các vần nối tiếp nhau phải cùng vần (vần chính), nếu vần tiếp theo khác hẳn vần chính thì lạc vận, nếu gần giống vần chính thì gọi là lân vận, nếu vần đọc lên nghe na ná vần chính thì gọi là vần thông (vần phụ). Ví dụ:


Lù lù ngồi giữa công đường
Ra oai có vẻ ông hoàng ta đây.
- Luật bằng trắc trong thơ lục bát:


A - Mô hình:

Các từ số: 1 2 3 4 5 6 7 8

Câu lục 1: + B + T + B

Câu lục 2: + T T + + B

Câu bát 1: + B + T + B + B

Câu bát 2: + T + B + T + B

(Ký hiệu: B là thanh bằng, T là thanh trắc, + là tự do.)



B – Luật bằng trắc trong thơ lục bát:

- Các từ 2, 4, 6, 8 phải luôn đúng luật bằng trắc (xem mô hình trên).

- Các từ 2, 4 câu lục phải niêm với các từ 2, 4 câu bát.

- Từ thứ 2 câu lục và câu bát phải là thanh bằng. Trường hợp bố trí từ thứ 2 câu lục là thanh trắc thì phải đưa về dạng tiểu đối. Tức là chia câu lục làm 2 về, mỗi vế 3 từ, đối nhau. Từ thứ 2, 3 phải là thanh trắc, từ thứ 6 phải là thanh bằng (như mô hình câu lục 2). Ví dụ:



Đi vạn dặm, viết nghìn trang
Khơi trong gạn đục vẻ vang một đời.



Chú ý: Từ số 5 câu lục nên dùng thanh bằng để đảm bảo đối cho cân, trường hợp hãn hữu mới dùng thanh trắc. Ví dụ:“Khi tựa gối, khi cúi đầu”... Nếu làm thơ nghệthuật quyết không dùng trường hợp hãn hữu này.

- Từ thứ 4 câu lục và câu bát phải là thanh trắc. Để câu thơ cân đối thì từ thứ 4 phải là thanh trắc (để gánh hai thanh bằng ở từ thứ 2 và 6). Nếu ở câu bát đã gieo vần lưng vào từ thứ 4 là thanh bằng thì từ thứ 6 phải dùng thanh trắc.

- Muốn câu thơ có nhạc thì ở câu bát phải bố trí từ thứ 6 thanh không (không dấu) và từ thứ 8 thanh huyền hoặc ngược lại. Nếu bố trí cả hai từ này cùng một thanh huyền (hoặc cùng thanh không) thì câu thơ đọc lên mất tính nhạc. Ví dụ:


Hỏi thăm cô ấy có chồng chưa nào?
- Họa thơ lục bát:


- Khi họa thơ lục bát cần tuân thủ nghiêm yêu cầu: Từ thứ 5, 7 ở câu bát và từ thứ 5 câu lục không được trùng với bài xướng.

- Khi họa nguyên vận thơ lục bát phải dùng đúng vần (cả vần chân và vần lưng) với bài xướng. Nhưng cũng có thể chỉ họa đúng vần chân cho dễ hơn...

- Tập Kiều và lẩy Kiều:


- Tập Kiều là lấy nguyên văn câu lục và câu bát ghép lại với nhau thành một bài thơ lục bát hoàn chỉnh. Chú ý: không được thay đổi một từ nào, cũng không được lấy cả cặp câu lục bát liền nhau.

- Lẩy Kiều là mượn từng câu trong Truyện Kiều, có sửa đổi đôi chút, rồi ghép lại thành một bài thơ có nội dung định thể hiện, không bắt buộc phải giữ nguyên vần.



- Tiểu đối:



Thơ lục bát không bắt buộc phải dùng tiểu đối. Nhưng nếu sử dụng thì ở câu lục chia hai phần phải đối nhau toàn diện (thanh, ý, từ). Còn câu bát cũng chia hai phần chỉcần đối ý, riêng từ thứ 4 và từ thứ 8 phải đối cân cả thanh và ý.
 
Last edited:

Tóc Xanh

Độc nhất vô nhị
Staff member
Vip Member
#2
Cách làm thơ thất ngôn bát cú đường luật
Thơ thất ngôn bát cú là loại thơ mỗi bài có 8 câu và mỗi câu 7 chữ, tức là chỉ có 56 chữ trong một bài thơ thất ngôn bát cú.
Thơ thất ngôn bát cú có thể được làm theo hai luật: luật bằng và luật trắc. Về vần thì có hai loại: vần bằng và vần trắc.
Tuy nhiên, các thi nhân thường hay làm theo vần bằng, tức là luật bằng vần bằng và luật trắc vần bằng.

1. LUẬT BẰNG VẦN BẰNG:
- Luật bằng vần bằng là bài thơ mà tiếng thứ hai của câu đầu là tiếng bằng và các tiếng ở cuối các câu 1-2-4-6-8 phải vần với nhau và đều là vần bằng.

2. LUẬT TRẮC VẦN BẰNG:
- Luật trắc vần bằng là bài thơ mà tiếng thứ hai của câu đầu là tiếng trắc và các tiếng ở cuối các câu 1-2-4-6-8 phải vần với nhau và phải là vần bằng.

BỐ CỤC BÀI THƠ BÁT CÚ:
- Câu số 1 dùng để mở bài (gọi là phá đề), câu số 2 dùng để chuyển tiếp vào bài (gọi là thừa đề). Hai câu này có tên là hai câu đề.
- Hai câu 3 và 4 dùng để giải thích đề tài cho rõ ràng. Hai câu này có tên là hai câu trạng (có nơi gọi thuật hay thực).
- Hai câu 5 và 6 dùng để bàn rộng nghĩa đề tài và được gọi là hai câu luận.
- Hai câu 7 và 8 dùng để tóm ý nghĩa cả bài và được gọi là hai câu kết.

Sau đây là bảng luật thơ:


1. LUẬT BẰNG VẦN BẰNG:

B - B - T - T - T - B - B (vần)
T - T - B - B - T - T - B (vần)
T - T - B - B - B - T - T (đối câu 4)
B - B - T - T - T - B - B (vần) (đối câu 3)
B - B - T - T - B - B - T (đối câu 6)
T - T - B - B - T - T- B (vần) (đối câu 5)
T - T - B - B - B - T - T
B - B - T - T - T - B - B (vần)


2. LUẬT TRẮC VẦN BẰNG:

T - T - B - B - T - T - B (vần)
B - B - T - T - T - B - B (vần)
B - B - T - T - B - B - T (đối câu 4)
T - T - B - B - T - T - B (vần) (đối câu 3)
T - T - B - B - B - T - T (đối câu 6)
B - B - T - T - T - B - B (vần) (đối câu 5)
B - B - T - T - B - B - T
T - T - B - B - T - T - B (vần)


Bài thơ thí dụ làm mẫu để minh họa:

1. LUẬT BẰNG VẦN BẰNG:

TRUNG THU

Trăng thu toả sáng nhớ xa xăm
Tháng tám chờ trông đến bữa rằm
Mẹ dán lồng đèn chơi suốt sáng
Cha làm trống ếch đánh quanh năm
Xa rồi cảnh cũ lòng se lạnh
Tiếc mãi ngày xưa lệ ướt dầm
Chiếc lá chao mình trong gió sớm
Nghe chừng vọng lại thoáng dư âm

Thứ Lang


2. LUẬT TRẮC VẦN BẰNG:

TRĂNG THỀ VƯỜN THÚY

Xót phận hồng nhan một Thúy Kiều
Trâm thề quạt ước lỗi hương yêu
Thanh lâu lịm kín đời xuân sắc
Kỷ viện vùi sâu nét diễm kiều
Gió Sở không vơi niềm tịch mịch
Mưa Tần chẳng bớt nỗi cô liêu
Xa xôi cách trở Kim lang hỡi
Có thấu lòng em tủi hận nhiều

Thứ Lang


-----o0o-----


Ghi chú thêm:

LUẬT BẤT LUẬN TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT

Người làm Thơ Đường Luật phải tuân theo những luật lệ bắt buộc rất gắt gao nghiêm ngặt. Mà đã là luật rồi thì không thể sai phạm, có như thế bài thơ mới chính thống. Nếu không sẽ bị lai căng thành ra một loại thơ tạp giống như thơ "tự do" ngày nay (nhái theo thơ Cổ phong ngày xưa).
Trong những luật lệ bắt buộc nói trên, có luật bằng trắc là cách sắp xếp âm điệu của bài thơ để nghe cho suông sẻ, êm tai, du dương, trầm bổng. Nếu không tuân theo luật nầy thì bài thơ đọc lên nghe rất chỏi tai, trắc trở, không hay. Tuy nhiên, để cho bớt gò bó trong việc tìm từ, kẹt ý ... thí dụ như gặp phải những từ kép hay những danh từ riêng chỉ nhân danh, địa danh, điển tích ... chúng ta không thể nào sửa đổi dấu giọng (bằng trắc) được. Do đó người xưa đã đặt ra Luật Bất Luận để "cởi trói" bớt cho người làm thơ. Theo bảng luật bất luận nầy thì:
- Các tiếng ở vị trí thứ 2-4-5-6-7 của mỗi câu bắt buộc phải tuân theo luật bằng trắc (chính luật) mà bảng luật đã ấn định.
- Các tiếng ở vị trí thứ 1 & 3 của mỗi câu không nhất thiết phải tuân theo luật bằng trắc mà bảng luật đã định. Tuy nhiên nên chú ý rằng mặc dù đã có luật bất luận nhưng tiếng nào theo luật định là trắc mà chúng ta làm bằng thì được, trái lại tiếng nào theo luật định là bằng mà chúng ta làm trắc thì không nên, đôi khi phạm phải lỗi "Khổ Độc" nữa. Vạn bất dắc dĩ, không tìm được tiếng nào hay hơn để thay thế thì chúng ta cũng có thể giữ y mà vẫn có thể chấp nhận được. Khi làm thơ càng cố gắng giữ đúng luật (chính luật) thì bài thơ càng hay về âm điệu. Bài thơ được đánh giá hay hay dở phần lớn là căn cứ vào các luật thơ, vì Thơ Đường Luật là Thơ Luật nghĩa là thơ phải làm theo luật. Bài thơ Đường Luật nếu bị sai luật dù cho nội dung, ý tứ, từ ngữ có hay cách mấy đi nữa thì cũng bỏ đi, không được chấp nhận.

Sau đây là Bảng Luật Bất Luận:

BẢNG LUẬT BẤT LUẬN THƠ THẤT NGÔN BÁT CÚ ĐƯỜNG LUẬT

1. LUẬT TRẮC:

t - T - b - B - T - T - B
b - B - t - T - T - B - B
b - B - t - T - B - B - T
t - T - b - B - T - T - B
t - T - b - B - B - T - T
b - B - t - T - T - B - B
b - B - t - T - B - B - T
t - T - b - B - T - T - B


2. LUẬT BẰNG:

b - B - t - T - T - B - B
t - T - b - B - T - T - B
t - T - b - B - B - T - T
b - B - t - T - T - B - B
b - B - t - T - B - B - T
t - T - b - B - T - T- B
t - T - b - B - B - T - T
b - B - t - T - T - B - B


Ghi chú: chữ b-t là không cần giữ đúng luật, chữ B-T là bắt buộc phải giữ đúng luật.

Ngoài ra Thơ Đường Luật là loại thơ "Độc Vận", nghĩa là chỉ gieo một âm vần duy nhất xuyên suốt cả bài thơ, không nên chen lẫn vào dù chỉ một âm vần khác, hay dở là ở chỗ nầy. Tóm lại Thơ Đường Luật nên gieo vần theo Chính Vận mà không nên dùng Thông Vận, vì toàn bài thơ chỉ có 5 vần thôi, đâu đến đổi khó tìm. Tuy nhiên trong những trường hợp bất khả kháng, người làm thơ vẫn có thể được phép dùng thông vận, nhưng càng ít càng tốt.
 
Last edited:

Tóc Xanh

Độc nhất vô nhị
Staff member
Vip Member
#3
THƠ TỨ NGÔN
Thơ Tứ Ngôn là loại thơ bốn chữ. Giống như các loại thơ khác, mỗi khổ thơ gồm 4 câu , nhưng tuỳ theo bố cục bài thơ, ý thơ mà số câu nhiều ít khác nhau.
Chữ cuối các câu 2, 3, 6, 7,… là âm Bằng và vần với nhau. Chữ cuối các câu 1, 4, 5, 8, 9, …là vần Trắc. Nói chung, từ câu thứ hai trở đi, cứ 2 câu âm Bằng lại kèm 2 câu âm Trắc…

Quy luật thơ bốn chữ :
1 2 3 4
1 2 3 4
1 2 3 4
1 2 3 4
1 2 3 4
1 2 3 4
1 2 3 4
1 2 3 4

Ví dụ minh hoạ

Trong phòng hương toả
Khói thuốc nhạt nhoà
Hương khói quyện hoà
Như ta quấn quýt

Anh là khói thuốc
Em thỏi hương trầm
Đôi ta phù vân
Cùng nhau chấp cánh.​
THƠ LỤC NGÔN
Thơ lục ngôn là thơ sáu chữ. Quy luật thơ không khó lắm, nhưng làm theo thể loại này, thơ khó hay, trừ khi nhà thơ phải thật tài năng.
Luật thơ : Chữ cuối các câu 1 và các câu chẵn 2, 4, 6, 8…thuộc âm Bằng . câu lẻ 3, 5, 7,…thuộc âm Trắc. Chữ thứ tư của câu dưới thường vần với chữ thứ 6 của câu trên.

1 2 3 4 5 6
1 2 3 4 5 6
1 2 3 4 5 6
1 2 3 4 5 6
1 2 3 4 5 6
1 2 3 4 5 6
1 2 3 4 5 6
1 2 3 4 5 6


Ví dụ minh hoạ :

Tôi yêu, tôi yêu rất nhiều
Tôi yêu, yêu biết bao nhiêu
Tôi yêu tuổi thơ trong trắng
Tôi yêu ánh nắng mùa xuân
Tôi yêu chùm hoa hoang
Tôi yêu câu nói …ngại ngần

Tôi yêu trời xanh màu áo
Tôi yêu tiếng sáo hư không
Tôi yêu giòng sông mây trắng
Tôi yêu một cánh diều say
Tôi yêu bàn tay thân ái
Tôi yêu một chiều mưa bay …​

THƠ SONG THẤT LỤC BÁT
Song Thất Lục Bát là loại thơ gồm hai câu bẩy chữ, một câu sáu và một câu tám chữ. Mỗi khổ thơ có bốn câu như vậy và không hạn chế số khổ thơ .Quy luật và âm vận được phối hợp như sau :

1 2 3 4 5 6 7
1 2 3 4 5 6 7
1 2 3 4 5 6
1 2 3 4 5 6 7 8

Ví dụ hai khổ thơ minh hoạ :

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Nào ai gây dựng cho nên nỗi /này/
Trống trường thành lung /lay/ bóng nguyệt
Khói cam tuyền mờ mịt thức mây
Bốn lần tên bắn trao tay
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh….​
THƠ THẤT NGÔN TỨ TUYỆT
Giống như thể loại thơ Thất Ngôn, nhưng Thất Ngôn Tứ Tuyệt là thơ chỉ có bốn câu. Sự khác biệt của thể loại thơ này là bố cục bài thơ được gói gọn trong bốn câu, còn quy luật thì cũng giống như thơ Thất Ngôn.
Ví dụ một bài thơ thuộc thể loại này :

Vạn pháp phù du khéo huyễn bày
Vô thường cho đến cả cỏ cây
Trăng non đương độ rồi trăng khuyết
Trong mắt em
Ngàn năm mây bay


THƠ TỰ DO

Thơ tự do là thể loại thơ không quy định bắt buộc số chữ trong câu, số câu trong một bài, cũng không quy định âm luật cho bài thơ. Vì vậy, thơ tự do tuỳ thuộc vào sự gieo vần ngẫu hứng của tác giả.
Ngày nay , nhiều người tưởng mình làm “thơ tự do” nhưng thực ra chỉ là sự ghép nối những câu văn xuôi ngăn ngắn, bởi vì Thơ chỉ được gọi là Thơ khi đọc lên có vần có điệu, cho dù đó là thơ tự do đi nữa.
Ví dụ minh hoạ :

NẰM BÊN TRÁI

Anh có cái đầu
và một trái tim
Cái đầu ở giữa nhưng trái tim không chịu nằm ở giữa
Cái đầu dùng công lý xét soi
nhưng trái tim có lý lẽ riêng của nó
Nó không cần sự biết điều hợp lý
Nó tự do như gió như mây,
như cánh chim Hải Âu thênh thang trên những giải núi non hùng vĩ
Có những khi cái đầu reo vui
thì trái tim rên rỉ
Cái đầu nói đúng thì nó bảo sai, cái đầu muốn thôi
thì nó bảo rằng cứ nữa
Ôi trái tim
nó che dấu bao nhiêu điều kỳ bí
Mà cái đầu không bao giờ hiểu được đến nơi
Chàng hoa tiêu ở trên phải nghe lệnh ông chủ điên cuồng ở dưới
Bởi vì khi cái đầu bóp nát trái tim
thì có nghĩa là nó theo nhau về nơi chín suối
Khi anh nói yêu em
đó là điều nghịch lý
Nhưng biết làm sao được
vì tim anh nằm bên trái
Em ơi !



Muốn làm thơ hay, các bạn phải có ý tưởng mới lạ, hoặc cái nhìn mới lạ về những sự vật, sự việc quen thuộc . Ngoài ra bạn phải có bố cục hay, tìm từ đắt giá.

Một bài thơ lý tưởng, là bài thơ làm cho người đọc có cảm xúc sâu sắc và ấn tượng khó phai với bài thơ đó.
 
Last edited:

Tóc Xanh

Độc nhất vô nhị
Staff member
Vip Member
#4
THƠ NGŨ NGÔN
Ngũ ngôn là thể loại thơ năm chữ, không hạn chế số câu. Quy luật thơ như sau :
1 2 3 4 5
1 2 3 4 5
1 2 3 4 5
1 2 3 4 5
…………..
Chữ cuối của câu đầu là vần trắc, chữ cuối của câu tiếp theo là vần Bằng. Sau đó cứ một câu vần Trắc, một câu vần Bằng…
Ví dụ minh hoạ :

Mùa Vu Lan năm ngoái
Anh tặng đoá hoa tươi
Em cài lên áo mới
Như mang một nụ cười

Mùa Vu lan năm ấy
Hoa nở ngập đường vui
Em đi trên mộng ước
Như đi giữa giòng đời

Mùa Vu Lan năm ấy
Mắt mẹ vẫn sáng ngời
Như mặt trời rực rỡ
Cho mùa xuân em tươi ....


THƠ THẤT NGÔN

Thất Ngôn là thể loại Thơ mỗi câu có bẩy chữ, số lượng câu không giới hạn. cách gieo vần trong thơ Thất Ngôn cũng rất đơn giản và “thoáng” có nghĩa là vần na ná tương tự cũng có thể chấp nhận được, miễn là đọc lên nghe xuôi tai, không chỏi là được.

QUY LUẬT

Hai câu đầu tiên bắt buộc : Chữ cuối của câu thứ nhất vần với chữ cuối của câu thứ hai (thường là âm Bằng)
Câu thứ ba, âm cuối là vần Trắc .
Câu thứ tư, âm cuối là vần Bằng.
Sau đó cứ một câu vần Trắc lại một câu vần Bằng.

MÔ HÌNH THƠ THẤT NGÔN

1 2 3 4 5 6 7
1 2 3 4 5 6 7
1 2 3 4 5 6 7
1 2 3 4 5 6 7
1 2 3 4 5 6 7
1 2 3 4 5 6 7
1 2 3 4 5 6 7

Một bài thơ minh hoạ :

…Giải lụa nào hay áo em bay
Cho lòng ta bỗng ngất ngây say
Tình ơi, em đã bao nhiêu tuổi
Để nhớ để thương suốt tháng ngày

Ai gõ vào tim từng tiếng đập
Cho hồn ta vỡ giấc mơ hoang
Em là Thiên Sứ đem ánh sáng
Từ thuở hồng hoang cõi địa đàng….
 
Last edited:

Tóc Xanh

Độc nhất vô nhị
Staff member
Vip Member
#5
THƠ LỤC BÁT ĐƠN GIẢN
Thơ Lục Bát là thể thơ quy định hai câu liên tiếp một câu sáu chữ, một câu tám chữ và số câu thì không giới hạn. Thơ Lục Bát nổi tiếng bởi tác phẩm nổi tiếng thế giới “Đoạn Trường Tân Thanh” của Đại Thi Hào NGUYỄN DU. Thơ Lục Bát là một thể thơ rất dễ làm bởi luật thơ rất đơn giản và tự do. Do không quy định bắt buộc về số câu trong bài thơ, nên bố cục được “mở” cho người làm thơ. Ngoài ra, các âm bắt vần cho hai câu không bắt buộc phải khớp với nhau một cách chặt chẽ, bởi một âm na ná tương tự cũng có thể chấp nhận được.

Nguyên tắc thơ lục bát

Âm của chữ thứ 6 của câu số 6 vần với âm của chữ thứ 6 của câu số 8. Chữ thứ 8 của câu số 8 vần với chữ thứ 6 của câu thứ 6 tiếp theo. Chữ thứ 6 của câu thứ 8 tiếp theo vần với chữ thứ 6 của câu thứ 6 kế trên. Chữ thứ 8 của câu thứ 8 này vần với chữ thứ 6 của câu thứ 6 tiếp theo . v.v….

Mô hình thơ lục bát như sau

1 2 3 4 5 6
1 2 3 4 5 6 7 8
1 2 3 4 5 /6/
1 2 3 4 5 6 7 (8)
1 2 3 4 5 (6)
1 2 3 4 5 /6/ 7 8

Trích đoạn thơ Kim Vân Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh) của Nguyễn Du để minh hoạ thơ lục bát

….Đầu lòng hai ả Tố Nga
Thuý Kiều là chị, em Thuý Vân
Mai cốt cách tuyết tinh /thần/
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn (mười)
Vân xem trang trọng (khác) vời
Khuôn trăng đầy đặn nét /ngài/ nở nang.
………
Qua đoạn thơ trên, chúng ta thấy âm vận trong thơ lục bát không quá khắt khe. Nếu khi thuận lợi cho ý thơ, có thể sử dụng âm vần nhau một cách chặt chẽ như : Nga, là – Vân, thần, phân. Nhưng cũng có thể sử dụng những âm tương tợ để hợp với ý câu, như : mười, vời, nở…
Thơ lục bát là thể loại thơ dễ làm, nhưng không vì thế mà nó kém giá trị sử dụng. Với tài văn chương của những thi sĩ hàng đầu, các tác giả vẫn có thể tạo nên những tác phẩm thơ tuyệt bút.
 
Last edited:

Tóc Xanh

Độc nhất vô nhị
Staff member
Vip Member
#6
Một Số Cách làm thơ tự do
Thơ TD có tất cả 4 cách làm , và Luật Bất Luận của thơ TD là ( Nhất Nhị Tứ bất luận ) , (Tam , Ngủ , Bát phân minh ) , nhưng thể thơ nầy ít có nhiều người theo luật lắm và được cải tiến nhiều ( vì nó được gọi là Tự Do ) nên sau nầy chỉ chú trọng khi viết chỉ cần giữ luật NIÊM VẦN là đủ

Cách thứ nhất:

Câu 1 và câu 3 phải giống nhau về luật BT và niêm Vần với nhau ở chữ cuối, Câu 2 và câu 4 cũng thế, nghĩa là chữ cuối phải vần (niêm) với nhau ! khi sang đoạn khác thì cũng như thể Trường Thiên (nhiều đoạn ) mình có thể đổi vần tuỳ thích

Luật Bằng Trắc trong thể thơ TỰ DO

ttTbBBTT (Niêm )
bbBtTTBB (niêm )
ttTbBBTT (Niêm)
bbBtTTBB (niêm )

Lỡ thương bé nên ngày đêm trộm NHỚ
Câu yêu đương anh khó thốt nên Lời
Ôi giấc mộng miên mang đầy nổi sợ
Tình đơn phương cay đắng lệ thầm RƠI

Cách thứ nhì:

Trong cách này thì 2 câu trên Vần Trắc (niêm) 2 câu dưới Vần Bằng và cũng niêm với nhau

ttTbBBTT (niêm )
ttTbBBTT (niêm)
bbBtTTBB (niêm )
bbBtTTBB (niêm)

Đơn bóng lẽ bao năm dài cách biệt
Niềm thầm kín xót xa ai có biết
Tình trái ngang đè nặng nổi thương tâm
Cố nhân ơi... lạnh lẽo bước thăng trầm ....
....

Cách thứ ba:

Cách nầy luật cũng như cách 1 và 2 , tuy nhiên câu 2 và câu 3 bắt buộc phải niêm nhau, còn câu 1 và 4 thì không đòi hỏi , cách nầy thì thường được viết nhiều nhất và khi mình viết nhiều đoạn thì câu 5 phải Niêm Luật và Vần với chử cuối câu 4 , và câu 9 niêm Luật và Vần với chử cuối câu 8 , and so on...

ttTbBBTT
bbBtTTBB (niêm )
bbBtTTBB (niêm)
ttTbBBTT

TD:

Tháng Sáu Tình Xa

Tôi thoáng nhớ một thời yêu màu trắng
Trước cổng trường khi nhạt nắng chiều buông
Từng cánh hoa ngơ ngác mắt nai buồn
Tay cắp sách phất phơ muôn tà áo

Hồi tưởng lại một chuyện tình huyền ảo
Giữa Hạ buồn trong tháng Sáu vàng hanh
Yêu một nàng con gái tuổi xuân xanh
Tà áo lụa nét hiền lành thôn nữ

Dáng bé bỏng mắt thẹn thùng bỡ ngỡ
Cánh Phượng hồng ,xác Ve nhỏ trao nhau
Rồi mỗi khi trông lá đổ khoe màu
Ru nho nho? bài mưa sầu tháng sáu
........

Cách thứ tư :

Luật Bằng

Cách này thì câu 1 và câu 4 là vần BẰNG , câu 2 và câu 3 vần TRẮC và niêm nhau ! khi làm thì phải từ 4 đoạn trở lên và chỉ giữ một vần Bằng trong khi mình viết Nhiều Đoạn...

TD:

bbBtTTBB
ttTbBBTT (niêm)
ttTbBBTT (niêm)
bbBtTTBB

bbBtTTBB
ttTbBBTT (niêm)
ttTbBBTT (niêm)
bbBtTTBB
........
........

TD:

Trái Đắng

Hiểu gì không ý nghĩa của lòng anh
Ôm mật đắng với niềm đau nghẹn Xót
Em có thể ban lời yêu thật Ngọt
Sưởi tim nầy dù chỉ một lần thôi

Để ấm lòng an ũi trái tim côi
Dù xa cách vẫn tràn đầy hạnh phúc
Nầy em hởi có bao giờ thổn thức
Thả hồn mình theo tiếng gọi con tim ....

( theo trường tương tư )

SONG THẤT LỤC BÁT

Cũng như LỤC BÁT, SONG THẤT LỤC BÁT thường được dùng trong
những truyện thơ, và là thể loại thứ hai của hai thể thơ
"chính tông" của Việt Nam.

Song Thất Lục Bát là loại thơ mở đầu bằng hai câu THẤT, rồi tiếp đến hai câu LỤC BÁT, tạo thành một KHỔ với ý từ
trọn vẹn (có nghĩa là trong 4 câu phải trọn vẹn một ý)

Câu THẤT trên (câu số 1), tiếng thứ 3 là chữ TRẮC, tiếng
thứ 5 là chữ BẰNG, và tiếng thứ 7 là chữ TRẮc và VẬN

Câu Thất dưới (câu số 2), tiếng thứ 3 là chữ BẰNG, tiếng
thứ 5 là chữ TRẮC và VẦN với tiếng thứ 7 của câu trên, tiếng thứ 7 là chữ BẰNG và VẬN

Song Thất Lục Bát không giống như Thất Ngôn Luật theo lối Hán văn, vì luật BẰNG TRẮC được áp dụng trong Song Thất ở chữ thứ 3, thứ 5, mà trong Thất Ngôn Luật thì chữ thứ 3 và chữ thứ 5 lại có thể theo lệ BẤT LUẬN

Sau hai câu Thất là hai câu Lục Bát, theo luật của Lục Batchữ cuối của câu LỤC vần với chữ thứ 7 của câu THẤT thứ nhì

Luật của STLB:

b b t t B b T(v)
t t B b T(v) t B(v)
b B t T b B(v)
b B t T b B(v) t B(v)

(v)=Vần
b = bằng ,không nhất thiết
t = trắc ,không nhất thiết
B = BẰNG , theo luật
T = TRẮC ,theo luật

Thí Dụ :

Thuở trời đất nổi cơn gió Bụi
Khách má hồng nhiều nổi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Nào ai gây dựng cho nên nổi nầy

Trống trường Thành lung Laybóng Nguyệt
Khói Cam Tuyền mờ Mịt khúc Mây
Chín tầng gươm báu trao Tay
Nữa đêm truyền hịch đợi Ngày xuất Chinh

(Chinh Phụ Ngâm Khúc)

Điều ngoại lệ của STLB :

ĐIỀU NGOẠI LÊ.: Thông thường chữ thứ 3 của câu Thắt 1) là vần TRẮC, nhưng trong trường hợp dùng vần BẰNG thì phải có đối ở câu dưới

Thí Dụ đoạn hai của bài trên :

Trống trường Thành lung Laybóng Nguyệt
Khói Cam Tuyền mờ Mịt khúc Mây
Chín tầng gươm báu trao Tay
Nữa đêm truyền hịch đợi Ngày xuất Chinh

thì ta thấy hai câu 7 7 trên được đối nhau từng từ từng chữ

Thí dụ thêm về thơ STLB:

Giấc Mơ Viễn Xứ

Non nước ấy bao giờ trở lại
Để con đây được mãi bên người
Mẹ già lệ đẩm đôi ngươi
Ôm con ve vuốt nụ cười điểm môi

Bờ liễu rũ con ngồi kể chuyện
Bao năm dài lưu luyến quê hương
Tấm lòng một kẽ tha phương
Năm canh ,sáu khắc đoạn trường xót xa

Ôi ước vọng ngắm tà dương xế
Thả hồn mình trên bể hoàng hôn
Trông chiều khói phủ làng thôn
Đếm chuông ngân vọng gõ mồn một vang

Bước chân nhẹ bên hàng phượng vĩ
Ngắm trường làng ôn kỹ niệm xưa
Dầm mình nhẹ gót dưới mưa
Nhớ hồi cấp sách sớm trưa thuở nào

Cầu tre ấy biết bao kỹ niệm
Dòng sông kia như mĩm cười rung
Nhăn mày ẩn chiếu linh lung
Lờ mờ đáy nước bóng khung trời già

Chợt tỉnh giấc hồn đà nhập thể
Nghe đâu đây tiếng dế gọi nhau
Thì ra trống điểm canh thâu
Giấc mơ viễn xứ đêm sâu lở làng

Nam Quan kia phải đang lạnh ngút
Bắc Ải nầy đến lúc giá băng
Lòng quê lệ thảm khó ngăn
Mong sao đất Việt vĩnh hằng thiên thu

THƠ ĐƯỜNG LUẬT

Đường Luật hoặc cận thể là thể thơ đặt ra tự đời nhà Đường (618-907) phải theo niêm luật nhất định.

Thơ tứ tuyệt và thơ bát cú: Theo số câu, thơ Đường Luật chia làm hai lối.

- 1.) Tứ tuyệt, mỗi bài bốn câu;
- 2.) Bát cú, mỗi bài tám câu;

TỨ TUYỆT

Định nghĩa: Tứ là bốn, tuyệt là dứt, ngắt. Lối này gọi thế vì thơ tứ tuyệt là ngắt lấy bốn câu trong bài thơ bát cú mà thành.

Các cách làm thơ tứ tuyệt: Vì một bài thơ bát cú có thể ngắt nhiều cách, nên cũng có nhiều cách làm thơ tứ tuyệt

Nhưng không hoàn toàn đồng ý với định nghĩa này ,thơ tứ tuyệt làm theo cấu trúc khai-thừa-chuyển-hợp, mỗi câu bảy chữ, không yêu cầu đối. Chữ cuối của các câu 1, 2, 4 thường là vần bằng. Chữ cuối của câu 3 có thể vần trắc, cách niêm như thơ thất ngôn bát cú. Ngày nay người ta sửa đổi định nghĩa về thơ tứ tuyệt, rằng thơ tứ tuyệt là thơ gì cũng được, miễn là có bốn câu, và vần luật tất nhiên cũng theo đó mà thay đổ

Mấy lần vào các diễn đàn thơ , thấy các topic tứ tuyệt nhưng chẳng ai viết đúng cả. Cách đây 2 năm , 1 tờ báo khá nổi tiếng ở Việt Nam tổ chức cuộc thi thơ tứ tuyệt : đoạt giải nhất là một bài thơ Lục Bát . Tứ Tuyệt ơi chết thiệt rồi sao ....

Người ta nói thể thơ này dựa theo cấu Nhất Tam Ngũ bất luận ,Nhị Tứ Lục Phân Minh nghĩa là chữ thứ 1,3,5 trong các câu thì không phải bắt buộc theo luật,còn chữ thứ 2,4,6 thì phải theo qui luật của nó ,

Luật căn bản của TNTT :

( các chử viết thường là không cần phải theo luật , còn các chử In Hoa thì bắt buộc

Bảng 1

b B t T t B B(niêm vần )
t T b B t T B(niêm vần )
t T b B b T T
b B t T t B B(niêm vần )

Thí dụ :

Nhớ
Song thưa gió lộng buốt mây trùng
Chạnh nhớ ai mà mắt lệ rưng
Soi mãi đài gương ngồi dựa bóng
Ba Thu chưa thoả mộng tương phùng

Bảng 2

t T b B t T B niêm
b B t T t B B niêm
b B t T b B T
t T b B t T B niêm

Thí Dụ :

Trong vắt trời non suốt một màu
Trên sông cài lững ánh trăng cao
Làm sao hái được vành trăng ấy
Để tặng cho riêng khách má đào
TTT...

Bảng 3

b B t T b B T
t T b B t T B niêm
t T b B b T T
b B t T t B B niêm

TD :

Đêm tàn lệ gối phai hương sắc
Nến lụn chập chờn gió thoảng qua
Cửa ngọc rèm thưa lay ánh nguyệt
Thầm ngồi soi bóng , bóng soi ta
TTT...

Bảng 4

t T b B b T T
b B t T t B B niêm
b B t T b B T
t T b B t T B niêm

Trời đất vô tình buông lặng lẽ
Núi sông hờ hững nặng nề trôi
Đêm khuya thanh vắng thuyền ai rẽ
Người ở giang đầu có nhớ tôi
TTT...

Chú ý trong bảng 3 va `4 thì hai vần Trắc không đòi hỏi phải niêm nhưng nếu làm được hai vần trắc niêm thì càng hay

Ở trên chỉ là căn bản của phần 1, bây giờ cũng áp dụng
luật căn bản nầy nhưng làm theo vần Trắc nghĩa là lấy vần Trắc làm căn bạn

Bảng 1

t T b B b T T niêm
b B t T b B T niêm
b B t T t B B
t T b B b T T niêm

TD:

Năm tháng buông dần theo đuỗi mãi
Tương tư ảo mộng sao phân giãi
Vào yêu mới rõ được thương đau
Mới hiểu sóng tình cuồn cuộn chảy
TTT...

Bảng 2

b B t T b B T niêm
t T b B b T T niêm
t T b B t T B
b B t T b B T niêm

TD:

Quanh co mấy chử buồn buồn ngũ
Trắc trắc bằng bằng sao khó thủ
Ít nét mà thôi đả hết rồi
Thơ gì viết mãi mà chưa đủ
TTT...

Bảng 3

t T b B t T B
b B t T b B T niêm
b B t T t B B
t T b B b T T niêm

TD :

Gió lộng bên thềm quét lá rơi
Khuya nay bóng nguyệt không thèm ghé
Thương người chốn ấy biệt ngàn khơi
Mắt dõi theo chàng đêm bóng lẽ
TTT...

Bảng 4

b B t T t B B
t T b B b T T niêm
t T b B t T B
b B t T b B T niêm

TD :

Dờn dờn nước biếc gợn mây bay
Lất phất gió lùa lay khóm trúc
Đáy nước lung linh bóng nguyệt cài
Vui say chén rượu bừng hương cúc

* Một số cách ngắt bát cú thành tứ tuyệt
1.) Ngắt bốn câu trên, thành ra bài thơ ba vần, hai câu trên không đối nhau, hai câu dưới đối nhau. Thí dụ:

Con Voi

(So sánh với biểu Thất ngôn bát cú, luật bằng, vần bằng ở trên.)

Xông pha bốn cõi bể chông gai,
Vùng vẫy mười phương bụi cát bay.
Phép nước gọi là tơ chỉ buộc, *
Sức này nào quản búa rìu lay. *

Lê Thánh Tôn (?)

* = đối nhau.

2.) Ngắt bốn câu giữa, thành ra bài thơ 2 vần, cả bốn câu đối nhau. Thí dụ:

Khóm Gừng Tỏi

(So sánh với biểu Ngũ ngôn bát cú, luật bằng, vần bằng ở trên)

Lởm chởm vài hàng tỏi *
Lơ thơ mấy khóm gừng *
Vẻ chi là cảnh mọn #
Mà cũng đến tang thương #

Ôn Như hầu

*, # = đối nhau.

3.) Ngắt bốn câu dưới, thành ra bài thơ 2 vần, hai câu trên đối nhau, hai câu dưới không đối. Thí dụ:

Đề Chùa Vô Vi (So sánh với biểu Ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng ở trên)

Vắt vẻo sườn non Trạo, *
Lơ thơ mấy ngọn chùa. *
Hỏi ai là chủ đó?
Có bán tớ xin mua

Vô Danh

* = đối nhau.

4.) Ngắt 2 câu đầu và 2 câu cuối, thành ra bài thơ 3 vần, cả 4 câu không đối. Thí dụ:

Cái Pháo

(So sánh với biểu Thất ngôn bát cú, luật bằng, vần bằng ở trên)

Xác không, vốn những cậy tay người,
Bao nả công trình, tạch cái thôi!
Kêu lắm, lại càng tan tác lắm,
Thế nào cũng một tiếng mà thôi.

Nguyễn Hữu Chỉnh

5.) Ngắt hai câu 1-2 với hai câu 5-6, thành ra bài thơ 3 vần hai câu cuối đối nhau. Thí dụ:

Con Cóc

(so sánh với biểu Thất ngôn bát cú, luật trắc, vần bằng ở trên)

Bác mẹ sinh ra bốn áo sồi,
Chốn nghiêm thăm thẳm một mình ngồi.
Tép miệng năm ba con kiến gió, *
Nghiến răng chuyển động bốn phương trời. *

Lê Thánh Tôn

( Sử dụng tài liệu của Dương Quảng Hàm )

BÁT CÚ

Trong lối thơ Đường Luật, có năm điều này phải xét:

1.) vần; 2.) đối; 3.) luật; 4.) niêm; 5.) cách bố cục.

Vần thơ:

A) Định nghĩa: Vần (chữ nho là vận) là những tiếng thanh âm hòa hiệp đặt vào hai hoặc nhiều câu văn để hưởng ứng nhau.

B) Cách gieo vần:

1.) Thơ Đường: luật thường dùng vần bằng, gián-hoặc mới dùng vần trắc.

2.) Suốt bài thơ Đường Luật chỉ hiệp theo một vần, tức là theo lối độc vận.

3.) Trong một bài bát cú có năm vần gieo ở cuối câu đầu và cuối các câu chẵn.

C.) Lạc vận và cưỡng áp: Gieo vần sai hẳn, không hiệp nhau gọi là lạc vận (lạc: rụng). Nếu vần gieo gượng không được hiệp lắm gọi là cưỡng áp (đặt gượng), đều không được cả.

Phép đối trong thể thơ:

A.) Định nghĩa: Đối là đặt hai câu đi sóng đôi cho ý và chữ trong hai câu ấy cân xứng với nhau.

1.) Đối ý là tìm hai ý tưởng cân nhau mà đặt thành hai câu sóng nhau.

2.) Đối chữ thì vừa phải đối thanh tức là bằng đối với trắc, trắc đối với bằng; vừa phải đối loại của chữ nghĩa là phải đặt hai chữ cùng một tự loại để đối với nhau (như cùng là hai chữ danh từ, hoặc động từ, v.v.)

3.) Những câu phải đối trong một bài thơ bát cú: Trừ hai câu đầu và hai câu cuối, còn bốn câu giữa thì câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6.

Luật Thơ:

A) Định nghĩa: Luật thơ là cách sắp đặt tiếng bằng tiếng trắc trong các câu của một bài thơ.

B) Tiếng bằng và tiếng trắc: Muốn hiểu luật thơ, phải biết phân biệt tiếng bằng tiếng trắc. Bằng (chữ nho là bình) là những tiếng lúc phát ra bằng phẳng đều đều. Trắc (nghĩa đen là nghiêng, lệch) là những tiếng khi phát ra hoặc tự thấp lên cao hoặc tự cao xuống thấp.

Trong tiếng ta có 8 thanh thì có hai thanh bằng và 6 thanh trắc như sau:

Bằng: Phù bình thanh = không có dấu

Trầm bình thanh = Huyền (`)
Trắc: Phù thượng thanh = Ngã (~)
Trầm thượng thanh = Hỏi (?)
Phù khứ thanh = Sắc (')
Trầm khứ thanh = Nặng (.)
Phù nhập thanh = Sắc (') *
Trầm nhập thanh = Nặng (.)*

* Riêng cho các tiếng đằng sau có phụ âm c, ch, p, t.

C.) Luật bằng và luật trắc: Thơ có thể làm theo hai luật:

1.) Luật bằng là luật thơ bắt đầu bằng hai tiếng bằng;

2.) Luật trắc là luật thơ bắt đầu bằng hai tiếng trắc.

D) Các luật thơ: Ngay liệt kê các luật thơ thông dụng như sau (b = tiếng bằng; t = tiếng trắc; v = tiếng vần; những chữ in lối chữ nghiêng là phải theo đúng luật; những chữ in thường thì theo đúng luật hoặc không theo đúng luật cũng được, theo cái lệ "bất luận" sẽ nói về sau):

I. LUẬT BẰNG II. LUẬT TRẮC

A. Vần bằng A. Vần bằng

1@Ngũ ngôn bát cú 1@Ngũ ngôn bát cú

I : b b t t b (v) t t t b b (v)
II. : t t t b b (v) b b t t b (v)
III : t t b b t b b b t t
IV : b b t t b (v) t t t b b (v)
V : b b b t t t t b b t
VI : t t t b b (v) b b t t b (v)
VII : t t b b t b b b t t
VIII : b b t t b (v) t t t b b (v)

2@ Thất ngôn bát cú 2@ Thất ngôn bát cú

I : b b t t t b b (v) t t b b t t b (v)
II : t t b b t t b (v) b b t t t b b (v)
III : t t b b b t t b b t t b b t
IV : b b t t t b b (v) t t b b t t b (v)
V : b b t t b b t t t b b b t t
VI : t t b b t t b (v) b b t t t b b (v)
VII : t t b b b t t (v) b b t t b b t
VIII : b b t t t b b (v) t t b b t t b (v)

B. Vần trắc B. Vần trắc

Ngũ ngôn bát cú Thất ngôn bát cú

I : b b b t t (v) t t b b b t t (v)
II : t t b b t (v) b b t t b b t (v)
III : t t t b b b b t t t b b
IV : b b b t t (v) t t b b b t t (v)
V : b b t t b t t b b t t b
VI : t t b b t (v) b b t t b b t (v)
VII : t t t b b b b t t t b b
VIII : b b b t t (v) t t b b b t t (v)

E.) Bất luận và khổ độc: Vì sự theo đúng luật bằng trắc như trên đã định là một việc rất khó, nên có lệ bất luận (không kể), nghĩa là trong câu thơ có một vài chữ không cần phải đúng luật.

1.) Trong bài thơ ngũ ngôn thì chữ thứ nhất và thứ ba không cần đúng luật: tức nhất, tam bất luận.

2.) Trong bài thơ thất ngôn thì chữ thứ nhất, thứ ba và thứ năm không cần đúng luật: tức là nhất, tam, ngũ bất luận.

Tuy theo lệ bất luận có thể thay đổi luật mấy chữ trong câu thơ, nhưng đang trắc mà đổi ra bằng bao giờ cũng được, chứ đang bằng mà đổi ra trắc thì trong vài trường hợp sự thay đổi ấy làm cho câu thơ thành ra khổ độc (khó đọc) không được. Những trường hợp ấy là:

1.) Trong bài thơ ngũ ngôn, chữ thứ nhất các câu chẵn và chữ thứ ba của các câu đang bằng mà đổi ra trắc là khổ độc.

2.) Trong bài thơ thất ngôn, chữ thứ ba các câu chẵn và chữ thứ năm các câu lẻ đang bằng mà đổi ra trắc là khổ độc.

F.) Thất luật: Một câu thơ đặt sai luật nghĩa là một chữ đang bằng mà đổi ra trắc hoặc trái lại, thế thì gọi là thất luật (sao mất luật) không được.

Niêm:

A) Định nghĩa: Niêm (nghĩa đen là dính) là sự liên lạc về âm luật của hai câu thơ trong bài thơ Đường Luật. Hai câu thơ niêm với nhau khi nào chữ thứ nhì của hai câu cùng theo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là trắc, thành ra bằng niêm với bằng trắc niêm với trắc.

B) Những câu niêm với nhau trong một bài thơ bát cú: Trong một bài thơ bát cú (xem lại biểu các luật thơ trên) những câu sau này niêm với nhau: 1 với 8. - 2 với 3. - 4 với 5. - 6 với 7. - 8 với 1.

C) Thất niêm: Khi các câu trong một bài thơ, vì sự đặt sai, không niêm với nhau theo lệ đã định; thì gọi là thất niêm (mất sự dính liền) không được.

Cách bố cục: Một bài thơ bát cú có bốn phần.

1.) Đề gồm có phá đề (câu 1) là mở bài và thừa đề (câu 2) là nối câu phá mà vào bài.

2.) Thực hoặc trạng (hai câu 3 và 4) là giải thích đầu bài cho rõ ràng.

3.) Luận hai (câu 5 và 6) là bàn bạc cho rộng nghĩa đầu bài.

4.) Kết (hai câu 7 và 8) là tóm ý nghĩa cả bài mà thắt lại.

* Những dạng thơ Đường Luật ( Theo Bồ Tùng Linh )

1 - Họa Vận

Một người làm một bài xướng lên, một người nữa làm bài khác họa lại mà các vần trong bài họa phải theo y như các vần trong bài xướng, còn ý nghĩa hoặc phụ theo cho rộng,hoặc trái hẳn lại ( phản đề ) :

Hỏi Ả Bán Chiếu
Xướng :
Ả ở đâu nay bán chiếu gon ?
Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn ?
Xuân thu nay độ bao nhiêu tuổi ?
Đã có chồng chưa được mấy con ?
Nguyễn Trãi
Họa :

Tôi ở Tây hồ bán chiếu gon .
Nỗi chi ông hỏi hết hay còn ?
Xuân thu tuổi mới trăng còn lẻ ,
Chồng còn chưa có,có chi con !
Nguyễn thị Lộ

2-Thủ nhất thanh ( nhất đồng )
Từ đứng đầu 8 câu đều giống nhau.

Tám Mừng

Mừng đón xuân về, muôn sắc hoa,
Mừng xuân,xuân mới, mới thêm ra.
Mừng nghe nhựa sống, như còn trẻ,
Mừng thấy đời tươi, chửa muốn già.
Mừng khỏe đôi chân, đi đứng vững,
Mừng tinh cặp mắt ngắm nhìn xa.
Mừng nhau tuổi Thọ tăng tăng mãi,
Mừng được trường xuân hưởng thái hòa.
1986 Lạc Nam

3-Song điệp
Tất cả 8 câu đều có 2 điệp từ :

Chuyện Đời

Vất vất vơ vơ, cũng nực cười,
Căm căm cúi cúi có hơn ai .
Nay còn chị chị anh anh đó ,
Mai đã ông ông mụ mụ rồi.
Có có không không, lo hết kiếp
Khôn khôn dại dại, chết xong đời.
Chi bằng láo láo lơ lơ vậy,
Ngủ ngủ ăn ăn nói chuyện chơi.
Nguyễn Công Trứ

4-Song điệp độc vận
Tất cả 8 câu đều có 1 từ và chỉ có 1 vần.

Xuân Và Thơ

Xuân tự ngàn xưa,bạn với Thơ
Tình Xuân là cả vạn lời Thơ
Đẹp duyên hoa bút,Xuân ngời sắc
Rộn khúc Xuân thiều,nhạc ánh Thơ.
Xuân vắng,oanh hờn,dầu dáng liễu
Xuân về hương tỏa ngát lời Thơ
Xuân nương, thi sĩ, đôi người ngọc,
Dệt mộng ngày Xuân, lộng ý Thơ.
Lạc Nam
5-Dĩ đề vi thuû
Lấy 8 từ đầu để mở đầu cho 8 câu thơ :

Xướng (Nam): "Trăm điều hãy cứ trông vào một ta"

Trăm nỗi bâng khuâng góp chuyện lòng
Điều chi mà ngại nghĩa non sông
Hãy buông lá thắm xuôi dòng vắng
Cứ để hoa đào cợt gió đông
Trông nẽo lầu thơ chờ hạnh ngộ
Vào trong giấc mộng đợì tao phùng
Một phen tâm sự hòa theo nhạc
Ta sẽ cùng nhau viết thỉ chung

Họa (Nữ) : "Đi đâu chẳng biết con người sở khanh"

Đi mãi đường xa đã biết lòng
Đâu còn mơ tưởng núi cùng sông
Chẳng đem thơ ấy treo lầu vắng
Biết chọn hoa nào bán chợ đông
Con mắt chưa từng xanh thế tục
Người quen đành tạm trắng tương-phùng
Sở Tần, xin nhắn thà xa cách
Khanh tướng đâu mà nghĩ đỉnh chung !

6-Dĩ đề vi vận
Lấy đầu đề làm vần

Không Chồng Trông Bông Lông

Xướng :
Bực gì bằng gái chực phòng không
Tơ tưởng vì chưng một tấm chồng,
Trên gác rồng mây ngao ngán nhẽ,
Bên trời cá nước ngẩn ngơ trông.
Mua vui lắm lúc cười cười gượng,
Giả dại nhiều khi nói nói bông.
Mới biết có chồng như có cánh,
Giang sơn gánh vác nhẹ bằng lông.
Nguyễn Khuyến

Họa Vận :
Phật rằng sắc sắc không không ,
Sắc sắc không không khó chất chồng.
Ân oán,nhiều người còn có ngóng,
Trải oan,lắm kẻ vẫn chờ trông.
Thế gian,nhân quả nhanh như bóng,
Cõi Phật,nhân duyên nhẹ tựa bông.
Xuân đến hoa xuân tươi đẹp mãi,
Luân hồi ra khỏi,hết bông lông.
Cổ Lai Hy (nhóm Silicon)

7-Toán thi
Cả bài câu nào cũng có từ chỉ con số.

Thân Phận Gái

Một sớm phân vân bước xuống thuyền,
Tưng bừng hai họ,nỗi sầu riêng.
Lặng nhìn ba má,đôi giòng lệ,
Xác pháo bốn bề,nát phận duyên.
Năm tháng rồi đây tùy số kiếp,
Hoài lang sáu nhịp,vọng chim uyên.
Bảy ba chìm nổi,tình nhi nữ,
Đôi tám sang ngang,đạo chính chuyên.
Tùng Linh

8-Liên hoàn
Thể thơ có nhiều đoạn, câu cuối của đoạn trên được chuyển thành câu đầu của đoạn dưới

Thi Lấy Được

Anh Phán nhà ta biết cóc gì
Kỳ thi Tham biện cũng ra thi,
Nhất thì anh đỗ,nhì anh trượt,
Chẳng đậu khoa này, khoa khác đi.

Chẳng đậu khoa này, khoa khác đi.
Nam nhi chi chí, há lo gì,
Một, hai, ba, bốn, năm năm trượt
Nhẵn mặt quan trường, chẳng thẹn chi.

Nhẵn mặt quan trường, chẳng thẹn chi.
Trượt thi, thi trượt, vẫn gan lì.
. . . .
Tú Mỡ
Lính Tập Vinh Qui

Chú đội qua Tây thắng trận về,
Cả nhà đón rước thật mừng ghê !
Ông già, bà lão gồm hai cụ,
Vợ giảnh, con ngoan đủ mọi bề, (1)
Nảy ngực mề đay tiền bạc chói,
Rạng mình khố đỏ áo vàng xuê.
Giang sơn mày mặt càng tươi tốt,
Bộ cất tay lên, ngó cũng nghề. (2)

Bộ cất tay lên ngó cũng nghề,
Miệng cười tróm trém, húi râu dê.(3)
Xông pha trăm trận từng hăm hở
Gánh vác hai vai ghẹo nặng nề ! (4)
Mở mặt Tiên Rồng dòng Đại Việt,
Nổi danh hùng hổ cõi Âu tê (5)
Trong tình cảnh nọ dầu không vẻ,
Văng vẳng dường nghe tiếng ắc-đê ! (6)
N.V.H

Chú thích
1-Vợ đẹp ( tiếng Nghệ)
2-Có vẻ tay nghề
3-Bộ râu xén như râu dê
4-Dù công việc có nặng đến đâu cũng không sợ (tiếng Nghệ)
5-Âu Tây.chữ tây,âm Hán có khi đọc là tê
6-Phiên âm chữ Pháp : un,deux.Tiếng hô đi đều của lính tập.

9-Liên hoàn thuận nghịch vận
Thể thơ như trên, nhưng bài thứ 2 viết ngược vần lại với bài thứ nhất.

Xem Núi Non Bộ

Non nhân, nước trí, điểu muông hiền,
Núi giả mà in dáng tự nhiên.
Một vũng xinh xinh, vươn một ngọn,
Hai cầu nho nhỏ, vắt hai triền.
Thuyền ngư lướt suối dong miền tục,
Cánh hạc trườn mây bổng cõi tiên.
Đối cảnh tâm tư dường nhẹ nhõm,
Lâng lâng chẳng bợn chút ưu phiền.

Lâng lâng chẳng bợn chút ưu phiền.
Bàn đá say cờ đôi lão tiên,
Lã vọng buông câu vờn sóng nước,
Phật đài mở lối lượn ven triền.
Sỏn thanh thủy tú,hồn u nhã,
Sắc lộng hương nùng ,khí hạo nhiên.
Phong cảnh tạo hình như giới thiệu
Chủ nhân đây cũng bậc nhân hiền.
Lạc Nam

10-Ô thước kiều
Thể thơ liên hoàn như trên, nhưng lấy 2 từ cuối, hoặc nhắc lại 2, 3 từ nào đó ở câu cuối của bài trên để mở đầu cho câu 1 của bài dưới.

Chống Tôn Thọ Tường

Lung lay lòng sắt đã mang nhơ,
Chẳng xét phận mình khéo nói vơ.
Người trí mang lo danh chẳng chói,
Đứa ngu luống sợ tuổi không chờ.
Bài hòa đã sẵn in tay thợ,
Cuộc đánh hơn thua giống nước cờ.
Chưa trả thù nhà,đền nợ nước,
Dám đâu mắt lấp với tai ngơ.

Tai ngơ sao đặng lúc tan tành,
Luống biết trách người,chẳng trách mình.
Đến thế còn khoe đàng đạo nghĩa,
Như vầy cũng gọi kẻ trâm anh.
Biển khơi vụng tính dung thuyền nhỏ,
Chuông nặng to gan buộc chỉ mành.
Thân có,ắt danh tua phải có,
Khuyên người ái trọng cái thân danh.

Thân danh chẳng kể, thật thằng hoang,
Đốt sáp nên tro lụy chẳng màng.
Hai cửa trâm anh xô sấp ngửa,
Một nhà danh giá xóa tan hoang.
Con buôn khấp khởi chưa từng ngọc,
Người khó xăng xăng mới gặp vàng.
Thương kẻ đòng văn nên phải nhắc.
Dễ đâu ta dám tiếng khoe khoang.
Phan Văn Trị ( 1830-1910)

11-Tập danh
a- Trong mỗi câu có danh từ gắn với đề tài

Mừng Ông Lão Hàng Thịt Ăn Thượng Thọ

Nay tiết mừng ông mới Bảy mươi,
Cổ hy(1) chưa dễ mấy lăm người.
Răng long nhưng hãy còn tinh mắt
Đầu bạc nhưng mà chửa tắc tai.
Bè bạn bày vai kèo (2) chén Lý (3)
Cháu con dưới gối múa sân Lai. (4)
Xưa nay vẫn giữ lòng chân thực
Chữ đức giả xương máu để đời.
Nguyễn Khuyến

Chú thích :
1-Do câu " nhân sinh thất thập cổ lai hy " ,ngưòi ta sinh ra sống được 70 tuổi,xưa nay rất hiếm có.
2-Rót rượu mời người khác uống. 3-Chén rượu của Lý Bạch ,nhà thơ uống rượu nổi tiếng. 4-Lão Lai,người nước Sở đời Xuân Thu, tuổi đã ngoài 70 còn cha mẹ, giả cách khóc như trẻ con để làm cho cha mẹ vui.

b-Mỗi câu thơ có 1 từ chỉ bộ phận trong thân thể con người.

Học Trò

Dài lưng tốn vải lại ăn no,
Nghĩ ngán cho thân phận học trò.
Thù nước, thù vua, ngay mặt chịu,
Công sưu, công ích, cắm đầu lo !
Vẫn giương mắt ếch mà ra quáng,
Còn ngậm lông mèo chả sợ ho !
Nói đến chuyện đời tai điếc đặc,
Rung đùi, chỉ nghĩ " tám đùi " to !
Nhì Mỹ

Chú thích : Ngậm lông mèo : ngậm bút chữ nho. Tám đùi :văn xưa gọi là " bát cổ "dịch là tám vế,vế đồng nghĩa với đùi.

12-Tính danh
Câu nào cũng có từ chỉ nhân danh hay địa danh. Giống như Điển Thi, câu nào cũng dẫn 1 điển ở bên Tàu.Xưa kia các cụ đồ nho chuộng lắm vì như thế các cụ mới chịu cho là có học, rộng kiến thức.

Lỗi Thề

Vùi oan bạc mệnh sóng Tiền Đường (1)
Ngọn đuốc Chiêm Thành(2) rở nhớ thương.
Chắp cánh đẹp gì câu Thất Tịch (3)
Ôm cầm say mãi gái Tầm Dương(4)
Lỗi thề Chung Tử (5) sầu tri kỷ
Hoen mái Tây hiên (6) lệ đoạn trường
Hồ Hán (7) ngậm ngùi mây cách biệt
Ngân Hà (8) mưa gió nẻo cầu sương.
Toại Khang

Chú thích :
1: Kiều trầm mình ở sông Tiền Đường. 2- Công chúa Huyền Trân phải sang lấy vua Chiêm Thành.
3- Đường Minh Hoàng -Dương Quý Phi đêm 7 tháng 7 âm lịch thề cùng nhau "sống làm vợ chồng chết là chim liền cánh cây liền cành". 4-Bạch Cư Dị,văn hào đời Đường, đêm đậu thuyền ở bến sông Tầm Dương làm bài Tỳ Bà Hành cho ca nữ hát.
5-Chung Tử Kỳ -Bá Nha là 2 bạn tri âm. Bá Nha gảy đàn,T ử Kỳ biết Bá Nha nghĩ gì. Tử Kỳ chết, Bá Nha đập đàn đi, không gảy nữa. 6-Trương Quân Thụy và Thôi Oanh Oanh tình tự dưới mái Tây hiên. 7-Chiêu Quân nhà Hán sang cống Hồ.
8-Ngưu Lang và Chức nữ đứng 2 bên sông Ngân Hà nhớ nhau khóc thành mưa ngâu trong tháng 7 Âm lịch.

13-Sắc thái
Câu nào cũng có từ chỉ màu sắc.

Chiều Nổi Mầu Thu

Trời thu bóng ác rực mầu vang,
Trườn trượt vào lưng dặng núi vàng.
Cánh nhạn chiều tà sương lót trắng
Chòm mây mưa nhạt khói mờ lam.
Lầu thu thoát nắng nâng rèm tía,
Vườn vắng còn đây nở đóa vàng.
Nếu chẳng vương tìm hoa súng tím,
Thì đâu được ngắm nguyệt da cam.
Toại Khang

14-Thủ vĩ ngâm
Thể thơ trong đó câu đầu và câu cuối giống nhau

Khoe Lười

Anh em chớ bảo ta lười,
Làm việc cho hay phải thức thời.
Xuân hãy còn chơi cho phỉ chí,
Hạ mà cất nhắc tất nhoài hơi.
Thu sang cảm nguyệt còn ngâm vịnh,
Đông lại hầm chăn tạm nghỉ ngơi.
Chờ đến xuân sang ta sẽ liệu,
Anh em chớ bảo ta lười.
Tú Mỡ

Đèn Kéo Quân

Lúng túng trong vòng mấy đứa đen,
Nhờ khi đỏ lửa mới hay hèn.
Nghênh ngang võng giá phô đồ giấy,
Đủng đỉnh dù che nép bóng đèn.
Thằng trước thằng sau liền gót chạy,
Anh trên anh dưới vểnh râu lên.
Này ai say tỉnh nhìn xem thử,
Lúng túng trong vòng mấy đứa đen.
Khuyết Danh

15-Triệt hạ
Từ cuối của mỗi câu thơ để bỏ lửng làm cho câu thơ chưa trọn nghĩa, khiến người đọc phải nghĩ ra.

Gái Hồng Nhan

Thấy gái hồng nha bỗng chốc mà . . .
Hõi thăm cô ấy chửa hay đà . . .
Hình dung yểu điệu in như thể . . .
Diện mạo phương phi ngó tưởng là . . .
Ăn mặc ra tuồng người ở chốn . . .
Nói năng phải lẽ giống con nhà . . .
Ước gì ta được mà ta để . . .
Ta để đem về để nữa ta . . .
Nguyễn Quý Tân

16-Yết hậu
Các câu trên đủ từ cả, riêng câu cuối cùng chỉ có 1 từ.

Rượu Say Nhè

Sống ở nhân gian, đánh chén cay,
Trăm năm ngày tháng, giữ be đầy.
Diêm vương phán hỏi "Ai đó " ?
- "Say ! "

Sống ở nhân gian đánh chén khè ,
Trăm năm ngày tháng,giữ đầy be.
Diêm vương phán hỏi " Ai đó " ?
- "Nhè ! "
Phạm Thái (biệt hiệu Chiêu Lỳ)

17-Áp cú
Từ cuối của câu trước trở thành từ đầu của câu sau.

Sang Canh

Năm nảo năm nao cũng ước lành
Lành, còn mong hết ? đón sang canh.
Canh trời thắc thỏm phương xin lộc,
Lộc nước lăm le khách vít cành.
Cành lá đêm qua dù thiếu nụ,
Nụ đào xuân hé đẹp hơn tranh,
Tranh đời mới lại màu hoa gấm,
Gấm vóc sơn hà lộng sắc xanh.
Toại Khang

Chừa Rượu

Những lúc say sưa, cũng muốn chừa,
Muốn chừa,nhưng tỉnh lại hay ưa,
Hay ưa nên nỗi không chừa được,
Chừa được, nhưng mà cũng chẳng chừa.
Nguyễn Khuyến

18-Chơi chữ
Thể thơ chơi chữ rất phong phú và hứng thú. Chỉ xin liệt kê ra đây vài bài mẫu :

a-Chơi theo vần A B C . . .

Muốn Quy Thuyền

A Di Đà Phật muốn quy thuyền,
B bết lòng tham hãy cứ nguyên.
C xích cho gần nơi cửa tịnh,
Đ đầu nguyện dứt mối trần duyên.
Thảo Am

Dở Dang

E không thoát khỏi xa niềm tục,
F gượng rồi ra cũng hão huyền.
T tái trần duyên tu chẳng trọn,
Y thời cũng trả,bát không quyên.
Bùi Tiến (nhóm Silicon)

b-Chơi theo các dấu : Huyền - Sắc - Nặng - Hỏi

Huyền diệu trông lên cửa đạo thuyền,
Sắc không khôn rõ thấu căn nguyên
Nặng nề nghiệp chướng e chưa hết,
Hỏi mấy ai đà có thiện duyên.
Thảo Am

c-Các từ trong bài thơ đều dùng một phụ âm hay nguyên âm

Chuyện Cô Cháu

Cô chẳng cho con cả chén chè
Cô cho chút chút,chán cô chưa.
Chè còn,cô cất cho chua cả,
Con cũng chê,mà chó cũng chê.
Bùi Tiến (Quán Thơ Silicon)
Chớ chớ, cháu cô chỉ chãnh chòe,
Cháo chè chi chiết chán chường chưa !
Chén chè cô cúng cho chùa cả,
Cầu cháu cùng cô chồng chẳng chê !
Mai Ninh (nhóm Silicon)

d- Ý của các từ , cụm từ, câu thơ đều phải hiểu theo nghĩa bóng, điển . . . Thể thơ chơi chữ này thú vị và bất ngờ nhất vì có khi người đọc nghĩ ra những ý mà chính tác giả cũng không nghĩ ra.

Tắm Trong Tù

Vùng vẫy mình trong bể nước đầy
Hết kỳ lại cọ, chẳng rời tay
Ông Tây cứ bảo mình yêu nước,
Ừ, chẳng yêu sao lại thế này ?
Nhượng Tống

Chú thích : Lệ nhà tù, một tuần mới cho tắm một lần, nên mỗi khi tắm, phạm nhân vùng vẫy kỳ cọ trong bể nước cho bằng đã.

Ghẹo Sư nữ

Ôm tiu cắp mõ ngủ kho kho,
Gió thổi mùng thiền mát mẻ cô,
Cánh cửa từ bi gài lỏng khóa,
Nén hương tế độ đốt đầy lò.
Cá khe lắng kệ đầu ngơ ngác ,
Chim suối nghe kinh cổ gật gù.
Nhắn với chúng sinh lòng muốn độ,
Đêm đêm thường niệm chữ nam vô !
Nguyễn Khuyến ? Mai Thế Quý ?

19-Kỵ đề
Thể thơ trong đó tất cả 8 câu đều không có từ nào chỉ đề tài mà vẫn thể hiện đầy đủ yêu cầu của đề tài. Chưa sưu tầm ra bài mẫu

20-Bát điệp
Thể thơ trong đó tất cả 8 câu đều có lồng vào 1 hoặc 2 từ giống nhau.

Gái Muộn Chồng

Ai giám thương đâu gái có chồng
Thương vì một nỗi chực phòng không.
Thương con quốc đực kêu mùa hạ
Thương cái bèo non giạt biển đông
Thương vợ chồng Ngâu duyên chểnh mảng,
Thương cha mẹ nhện số long đong.
Cái thương quân tử thương là thế,
Có giám thương đâu gái muộn chồng.
Khuyết Danh

Còn Chơi

Ai đã hay đâu tớ chán đời,
Đời chưa chán tớ, tớ còn chơi.
Chơi cho thật chán, cho đời chán,
Đời chán nhau thời tớ sẽ thôi.
Nói thế, can gì tớ đã thôi ?
Đời đương có tớ, tớ còn chơi.
Người ta chơi đã già đời cả
Như tớ năm nay mới nửa đời.
Tản Đà

Chú thích :Trong câu 5 Tản Đà không có dùng từ đời. Nếu ta thay từ " can gì " bằng "đời nào " câu 5 thành : "Nói thế, đời nào tớ đã thôi" thì bài thơ thuộc thể Bát điệp.

21-Liên ngâm
Thể thơ trong đó 2 hoặc nhiều người làm chung một bài thơ lần lượt nhau mỗi người 1 hoặc 2 câu.

Cảnh Tây Hồ

Bài này do bà Liễu Hạnh cùng ông Phùng Khắc Khoan ,1 ông họ Lý,1 ông họ Ngô chơi thuyền ở Hồ Tây liên ngâm:

(Liễu)
Hồ Tây riêng chiếm một bầu trời
(Lý)
Bát ngát tứ mùa rộng mắt coi.
Cỗi ngọc xanh xanh làng phía cạnh,
(Phùng)
Trâu vàng biêng biếc nước vàng khơi.
Che mưa nhà lợp vài gian cỏ
(Ngô)
Chèo gió ai bơi một chiếc chài
Giậu thủng chó đua đàn sủa tiếng
. . . . . . . . . . . .

(Phùng)
Đông hết thành xuân chửa thấy mai.
Thú cảnh yên hà sang dễ đọ
(Ngô)
Sóng lòng trần tục dạ đầy vơi.
Xe săn Vị Thủy tha hồ hỏi
(Lý)
Thuyền tới Đào nguyên mặc sức bơi.
Chuông sớm dục thanh lòng Phật đó
(Liễu)
Trăng tròn soi bóng một tiên thôi.

( Nguyên văn chữ Hán Truyện Liễu Chúa-Phan Kế Bính dịch nôm trong Việt Hán văn khảo )

22-Hạn Vận
Người ra đề cho vần nào ta phải dùng vần ấy. Thể thơ này khác với thể Họa Vận vì không có bài xướng để dựa theo mà họa, hơn thế nữa, ta phải :

* Tả ý thơ theo đầu đề
* Dùng 5 vần hạn định (trong 8 câu)
Thí dụ : Cuộc thi thơ do học giả Phan Kế Bính tổ chức

a/ đầu đề :

Trống treo ai dám đánh thùng
Bậu không, ai dám dở mùng chun vô ?

b/ 5 vần hạn định : xô, cô, vô, ô, rô.
Bài thơ sát với đầu đề, hạ đúng 5 vần hạn định, được giải nhất mà tác giả lại là một nhà sư chân tu ! :

Nào phải là ai dám giục xô,
Thuận tình truớc hết tự nơi cô.
Có cho mới dám trao dùi đánh,
Không hẹn nào ai đẩy cửa vô ?
Mảng sướng kể gì thân lễ nghĩa,
Ham vui quên hết chuyện dâm ô.
Thói hư thuần, thước xưa còn lạc,
Đừng học làm chi gióng nhảy rô !

23-Phú Đắc
Giải thích và phát triển ý của một câu ca dao hay một câu thơ bằng một bài thơ, nhưng nội dung phải phù hợp với sự việc đó.

Già Còn Muốn Lấy Chồng

Phú Đắc :
Bà già đã bảy mươi tư,
Ngồi trong cửa sổ gửi thư kén chồng

Đã trót sinh ra kiếp má đào,
Bảy mươi tư tuổi có là bao ?
Xuân xanh xấp xỉ hàng răng rụng
Ngày vắng ân cần mảnh giấy trao.
Chữ nhất nhi chung đành đã vậy (1)
Câu tam bất hiếu nữa làm sao (2)
May mà lấy được ông chồng trẻ,
Họa có sinh ra được chút nào ?
Nguyễn Khuyến

Chú thích :
1- Nhất nhi chung : chỉ có một chồng cho đến trọn đời.
2- Tam bất hiếu :Theo thuyết Khổng Mạnh có câu " Bãt hiếu hữu tam, vô hậu vi đại ", nghĩa là tội bất hiếu có 3 điều, không có con trai nối dõi là tội to nhất.

Thách Vần
Phú Đắc :
Tối um um, trống điểm thùm,
Dáng lum khum, có lẽ hùm !
Quán tùm hum !

Giời hôm như mực cỏ xanh um,
Kẽm trống đâu đây bước đánh thùm,
Ven núi chẳng nề cao với thấp,
Qua cầu đếch biết thẳng hay khum.
Đường mây, ngọn gió, đôi đàn vạc,
Móng đá chân sim, một dấu hùm.
Sực thức đêm khuya thương kẻ lạnh,
Màn, chăn, đệm ấm hủm hùm hum.
Lê Lượng Thể (biệt hiệu Thảo Trang)

24-Láy Thơ
Thể thơ trong đó hoặc ở đầu câu,ở giữa câu hay ở cuối câu đều có từ láy. Láy có 3 loại :

a- Láy từ : Từ đùng trước được láy lại toàn bộ ở từ sau : ngời ngời, xinh xinh, ngà ngà, ngoan ngoãn . . .

b- Láy âm :Bộ phận phụ âm đàu của từ trước được láy lại ởbộ phận phụ âm của từ sau : khó khăn, đỡ đần . . .

c- Láy vần : Bộ phận vần của từ trước được láy lại ở bộ phận vần của từ sau : bồn chồn-lẩm cẩm-cheo leo . . .

d- Láy có 3 thể :

1/ Láy đôi : canh cánh, tà tà, lăm le . . .

Quan Khánh

Đứng tréo trông theo cảnh hắt heo,
Đường đi thiên thẹo, quán cheo leo.
Lợp lều quán cỏ tranh xơ xác,
Xỏ kẽ kèo tre đót khẳng khiu.
Ba chạc cạy xanh hình uốn éo,
Một dòng nước biết cảnh leo teo.
Thú vui quên cả niềm lo lắng,
Kìa cái diều kia nó lộn lèo !
Hồ Xuân Hương

2/ Láy ba (Vĩ Tam Thanh): Sạch sành sanh-dửng dừng dưng - sát sàn sạt . . .

Ngẫu Hứng

Tiếng gà bên gối tẻ tè te,
Bóng ác trông lên hé hẻ hè.
Cây một chồi cao von vót vót,
Hoa năm sắc nở lóe lòe loe.
Chim tình bè lứa kia kìa kịa,
Ong, nhĩa vua tôi nhé nhẻ nhè.
Danh lợi mặc người ti tí tị,
Ngủ trưa chửa dậy khỏe khòe khoe.
Vô Danh

3/ Láy tư : Trùng trùng điệp điệp, lúng ta lúng túng, hớt hơ hớt hải, áo áo quần quần . . .

Hạ Long Tức Cảnh

Trùng trùng điệp điệp núi chon von,
Ảo ảo mơ mơ thế trận hồn ,
Lớp lớp hàng hàng hòn Bái Tử,
Non non nước nước một lòng son.
Tùng Linh (Quán Thơ Silicon)

25-Lái Thơ
Thể thơ có những cụm từ đôi được lái thành cụm từ đôi khác (hoặc cụm từ ba, nhưng rất ít), như trong câu : "Con cá đối nằm trong cối đá" hoặc trong cảnh Trạng Quỳnh ngồi bờ ao chơi đá bèo làm cho bà Quận Chúa phải đỏ mặt.

Muốn Quy Thuyền

Cầu đạo cần chi phải cạo đầu ,
Dầu lai dưa muối cũng dài lâu.
Na bường bát tới nương bà vãi,
Dầu sãi không tu cũng giải sầu.
Thảo Am

Nhắn Bạn

Nhắc bạn những thương tình nhạn bắc,
Trông đời chỉ thấy cảnh trời đông.
Đêm thâu tiếng dế đâu thêm mãi,
Cười ngả nghiêng cho mệt cả người.
Thảo Am

26-Cô nhạn xuất quần
Thể thơ trong đó vần câu đầu làm khác hẳn, không giống mấy vần dưới. Chưa sưu tầm ra bài mẫu.

27-Cô nhạn nhập quần
Thể thơ trong đó mấy vần trên đi với nhau, chỉ có vần dưới làm khác hẳn đi. Chưa sưu tầm ra bài mẫu

28-Liên Châu
Thể thơ tràng thiên dùng nguyên một vần mà câu nào cũng có vần. Chưa sưu tầm ra bài mẫu

29-Vấn nghi
Câu thơ nào cũng theo thể hỏi, nên sau mỗi câu đều đặt được dấu hỏi cả.

Vấn Nguyệt

Trải mấy thu nay vẫn hãy còn ?
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn ?
Hỏi con Ngọc-thỏ đà bao tuổi ?
Chớ chị Hằng-nga đã mấy con ?
Đêm thẳm cớ chi soi gác tía ?
Ngày xanh còn thẹn với vừng son ?
Năm canh lơ lửng chờ ai đó ?
Hay có tình riêng với nước non ?
Vô Danh

30-Thuận nghịch độc (hồi văn)
Thể thơ khi đọc xuôi là 1 bài thơ,mà đọc ngược cũng là 1 bài thơ. Thể thơ này đòi hỏi công phu ghép từ thật khéo và phải làm theo đúng luật bằng trắc để có thể đọc xuôi ,đọc ngược đều có nghĩa, câu thơ chải chuốt không khổ đọc.

Cảnh Tây Hồ

(Đọc xuôi) :
Đây vui thực lạ cảnh Tây Hồ !
Trước tự trời kia khéo vẽ đồ.
Mây lẫn nước xanh màu tỏ ngọc,
Nguyệt lồng hoa thắm vẻ in châu.
Cây la tán rợp từng cao thấp,
Sóng gợn cầm tâu nhịp nhỏ to.
Bày khéo thú vui non nước đủ,
Tây Hồ giá ấy dễ đâu so !
Khuyết Danh

(Đọc ngược) :
So đâu dễ ấy giá Hồ Tây ?
Đủ nước non vui thú khéo bày.
To nhỏ nhịp tâu cầm gợn sóng,
Thấp cao từng rợp tán la cây.
Châu in vẻ thắm, hoa lồng nguyệt,
Ngọc tỏ màu xanh, nước lẫn mây.
Đồ vẽ khéo kia trời tự trước,
Hồ Tây cảnh lạ thực vui đây !
Khuyết Danh

Xuân Hứng

(Đọc xuôi, Hán văn) :
Thi đàn tế liễu lộng hoa hài,
Khách bộ tùy sương ấn bích đài
Kỳ cục đã thanh phong giáp trận
Tửu hồ khuynh bạch tuyết hòa bôi !
Sơ liêm thấu nguyệt hương hung trúc,
Tuyết án lăng hoa vị áp mai
Phi phất thảo am đầu tĩnh điếm
U tình cố nãi thuộc quyên ai !
Khuyết Danh

(Đọc ngược theo phiên âm chữ nôm) :
Ai quen thuộc ấy có tình ư ?
Điếm tĩnh đầu am cỏ phất phơ
Mai ép mùi hoa lùng án tuyết
Trúc lồng hương nguyệt thấu rèm thưa
Chén hòa tuyết trắng nghiêng hồ rượu
Trận giáp phong thanh đánh cuộc cờ
Rêu biếc in sương theo bước khách
Hài hoa lỏng lẻo tới đàn thơ.
Khuyết Danh

31-Phá cách
Thơ làm thất niêm có dụng ý

Đèo Ba Dội

Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
Cửa son đỏ hoét tùm hum nóc,
Kẽ đá xanh rì lún phún rêu.
Lắt léo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.
Hiền nhân quân tử ai mà chẳng
Mõi gối chồn chân vẫn muốn trèo.
Hồ xuân Hương

Chú thích : Bài thất ngôn bát cú này làm theo thể bình, vần bình, nhưng không theo niêm luật.

Mấy Điều Kỵ Trong Thơ Đường Luật

Phép làm thơ ,có mấy điều tối kỵ không nên phạm đến :
1- Thất luật : Những từ đáng Bằng mà làm ra Trắc hoặc đáng Trắc mà làm ra Bằng

2- Thất niêm : Câu trên đang theo luật Bằng mà câu dưới sang luật Trắc hoặc câu trên đang theo luật Trắc mà câu dưới làm sang luật Bằng

3- Lạc vận : Đang theo vần này mà gieo sang vần khác, như như vần trên là trời mà vần dưới là mây thì gọi là lạc vận.

4- Xuất vận : Người ta đã hạn định cho những cho những vần gì,mà mình dùng vần khác,thì gọi là xuất vận.

5- Trùng vận : Câu trên đã dùng một vần ,câu dưới lại dùng dùng như thế nữa thì gọi là trùng vận.

6- Cưỡng áp : Các vần gieo ép uổng, không được hiệp lắm.

7- Khổ độc : Trong một bài thất ngôn,chữ thứ ba các câu chẵn,trong một bài ngũ ngôn,chữ thứ nhất các câu chẵn đáng là từ bằng mà làm ra từ trắc

8- Phong yêu hạc tất : từ thứ tư và tứ thứ bảy trong thơ thất ngôn, từ thứ hai và từ thứ năm trong thơ ngũ ngôn trùng một âm.

9- Đối không chỉnh : Khi những từ trong bài thơ phải đối nhau mà từ nặng từ nhẹ không được cân.

10- Trùng từ hay trùng ý : Từ hay ý đã dùng rồi mà lại còn dùng nữa.

Tài liệu tham khảo

1- Việt Nam Văn Học Sử Yếu , Dương Quảng Hàm , nxb Bộ Quốc Gia Giáo Dục, 1962

2- Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên , Phạm Thế Ngũ ,nxb , Quốc Học Tùng Thư,1965

3- Nam Thi Hợp Tuyển, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, nxb Bốn Phương, 1952

4- Tìm Hiểu Các Thể Thơ, Lạc Nam, nxb Văn Học Hà Nội, 1996.

5- Khảo Luận Về Thơ, Lam Giang, nxb Đồng Nai, 1994.

6- Thơ Văn Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu giới thiệu, nxb Văn Học-Hà Nội, 1971.

7- Thơ Văn Trào Phúng Việt Nam Từ Thế Kỷ 13 Đến 1945, Vũ Ngọc Khánh Biên soạn, nxb Văn Học-Hà Nội, 1974.

8- Thơ Văn Yêu Nước (1858-1900), Chu Thiên ,nxb Văn Học Hà Nội , 1970.

9- Chơi chữ , Lãng Nhân, nxb Nam Chi Tùng Thư, 1961.

10- Việt Nam Gãm Hoa, Hương Giang Thái Văn Kiểm, nxb Làng Văn Canada,1997.

11- Người Ham Chơi, Hoàng Phủ Ngọc Tường, nxb Thuận Hóa,1998.
 

Tóc Xanh

Độc nhất vô nhị
Staff member
Vip Member
#7
Thơ Haiku
o 0 o

Thơ Haiku là gì ?
Haiku âm theo lối chữ Kanji ( gốc chữ Nho) là bài cú , có nghĩa là câu nói để trình bày . Chữ "hai" nghĩa là "bài" , trong tiếng Hán Việt có nghĩa "phường tuồng" , chữ "ku" là "cú" hay "câu". Haiku là loại thơ độc đáo , rất thịnh hành của Nhật Bản và là loại thơ ngắn nhất trên thế giới.

Hình thức thơ Haiku

Một bài thơ theo thể thơ Haiku có ba giòng, giòng đầu và giòng cuối mỗi giòng có năm âm, ôm lấy giòng giữa có bảy âm, có dạng 5-7-5, tổng cộng 17 âm. Tiếng Nhật Bản đa âm, nên mỗi giòng có thể có một, hai, ba chữ hay nhiều hơn. Haiku có biến thể là 5-7-6 hay 5-8-5, lên 18 âm trọn bài. Tiếng Việt đơn âm , nên mỗi chữ là một âm . Không cần vần điệu , nhưng thơ Haiku là sự kết hợp giữa màu sắc, âm thanh, tượng hình có chọn lọc. Thoạt nhìn chỉ là một bài thơ ngắn gọn, nhưng người thơ đã dẫn dắt chúng ta đi qua một khu vườn chữ nghĩa nhỏ hẹp để thênh thang bước vào một cõi tư duy vô cùng bát ngát, một chân trời sáng tạo rộng mở mà người đọc cần có một sự tưởng tượng dồi dào phong phú .
Ngày nay thơ Haiku thoáng hơn nhiều, không gò bó số chữ trong mỗi câu (tổng cộng trên dưới 17 âm hay chữ), không nhất thiết phải chấm, phết hoặc chấm phết tuỳ tiện (không cần phải ở cuối câu), không cần đặt tựa, không bắt buộc phải có từ của mùa . Chỉ giữ lại hình thức 3 câu , và được đưa vào những từ ngữ chải chuốt, những ẩn dụ của cái hữu hạn và vô hạn ...

Nội dung thơ Haiku

Về nội dung có luật cơ bản sau : không mô tả cảm xúc, chủ yếu ghi lại sự việc xảy ra trước mắt. Vì số chữ bị giới hạn trong 17 âm nên thơ Haiku thường chỉ diển tả một sự kiện xảy ra ngay lúc đó, ở thì hiện tại. Sự kiện này có thể liên kết hai ý nghĩ, hay hai ý tưởng khác nhau mà ít khi người ta nghĩ đến cùng một lúc.
Ôi những hạt sương ( sự kiện hiện tại)
Trân châu từng hạt (ý nghĩ thứ 1)
Hiện hình cố hương (ý nghĩ thứ 2)


Một bài Haiku Nhật luôn tuân thủ hai nguyên lý tối thiểu, đó là Mùa và Tính Tương Quan Hai Hình Ảnh.Trong thơ bắt buộc phải có “Kigo” (quý ngữ) nghĩa là từ miêu tả mùa ( không dùng từ xuân, hạ, thu, đông nhưng dùng các từ như hoa anh đào, cành khô, lá vàng ,tuyết trắng ... để chỉ các mùa), và diễn tả một hình ảnh lớn (vũ trụ) tương xứng với một hình ảnh nhỏ (đời thường).

Tiếng ve kêu râm ran ( tiếng ve kêu chỉ mùa hạ)
Như tan vào trong than trong đá
Ôi, sao tĩnh lặng quá!


lặng yên qua mấy từng không (hình ảnh vũ trụ)
lời ve (hình ảnh nhỏ)
gõ thấu vào lòng đá xanh.


Ðọc thơ Haiku, ta cảm được vị trí đứng ở ngoài sự kiện của tác giả. Tác giả dường như chỉ chia sẻ với người đọc một sự kiện đã quan sát được.

Cỏ hoang trong đồng ruộng
Dẫy xong bỏ tại chỗ
Phân bón!


Nhưng người đọc vẫn có thể nghiệm được tình cảm của tác giả, một tình cảm nhè nhẹ, bàng bạc trong cả bài thơ, nói lên niềm vui sống hay sự cô đơn, đôi khi cũng nêu ra điểm tác giả thắc mắc về cuộc đời của con người: ngắn ngủi, phù du, trước sự vĩnh hằng của thiên nhiên.

Thế giới này như giọt sương kia
Có lẽ là một giọt sương
Tuy nhiên, tuy nhiên...


Thơ có xu hướng gợi ý hay ám chỉ bóng gió nhẹ nhàng. Thông thường trong thơ đưa ra hai hình ảnh : một hình ảnh trừu tượng sống động và linh hoạt, một hình ảnh cụ thể ghi dấu thời gian và nơi chốn.

Trăng soi (hình ảnh trừu tượng)
Một bầy ốc nhỏ (hình ảnh cụ thể)
Khóc than đáy nồi (nơi chốn cụ thể)


Nhà thơ không giải thích hay luận về sự liên kết giữa hai hình ảnh nầy, chỉ diễn tả sự vật theo bản chất tự nhiên của nó . Người làm thơ phải tự đặt mình như một đứa trẻ lúc nào cũng có cảm giác bỡ ngỡ , lạ lùng khi tiếp xúc lần đầu tiên với ngoại giới . Một bài thơ Haiku hay là làm sống lại những gì đã chôn sâu trong ký ức và đưa ra những cảm giác sâu sắc, tế nhị, để tự nó khơi lại trí tưởng tượng và mơ ước của người đọc để người đọc tự suy diễn , cảm nhận .

Chim vân tước bay
Thở ra sương gió
Dẫm lướt từng mây


Thơ như một bài kệ, sàn lọc từng chữ, không dư mà cũng không thiếu, cốt sao nói đến chính cái đang là - "đương hạ tức thị". Nắm bắt thực tại ngay trong giây phút nẩy mầm, cái đang xảy ra lắm khi chuyên chở cả một vũ trụ thu gọn vào trong thời điểm đó, tiểu thế giới và đại thế giới hòa nhập vào nhau. Một diễn tiến trước mắt khiến ta liên tưởng đến một hiện tượng hay biến cố nào đó trong một kinh nghiệm sống của riêng mình . Kỷ xảo của thơ Haiku là giản lược tối đa chữ nghĩa trong thơ để vận dụng trí tưởng tượng nơi người đọc . Không có người làm thơ và kẻ đọc thơ, cả hai nhập làm một, đồng âm cộng hưởng trong niềm rung cảm với sự liên hệ rất tinh tế và hài hòa của đất trời.

Thiền tính trong thơ Haiku

Thơ Thiền Nhật ban đầu cũng chịu ảnh hưởng từ Trung Hoa, nhưng đến thế kỷ thứ 17 thì thể thơ Haiku ra đời và phát triển mạnh vào thế kỷ thứ 19 . Người sáng lập loại thơ này là Thiền sư Matsuo Basho. Năm 1680, Matsuo Basho viết bài thơ Con ếch theo lối Haikai - một thể thơ mới (theo thời điểm bấy giờ) mở đường cho thể thơ Haiku. Các bài Haikai của Basho ngắn, gọn, súc tích từ chữ đến ý, cho thấy cái nhìn và thi tứ của nhà thơ. Những người ngưỡng mộ ông tập làm lối thơ này, và thể Haikai trở nên nghiêm trang, chín chắn hơn để dần trở thành thể Haiku, nói lên cái quan niệm và ghi lại sự rung động của nhà thơ.
Sau Basho, có ba nhà thơ lớn của Haiku lần lượt xuất hiện, hợp cùng Basho thành tứ trụ của Haiku Nhật Bản: Basho , Buson , Issa , Shiki .
Trong bài thơ sau đây của Basho :

Fu ru i ke ya Trong ao xưa
Ka e ru to bi ko mu Con ếch nhảy vào
Mi zu no o to Tiếng nước khua


Chỉ vài chữ : một ao nước, một con ếch nhảy , một tiếng nước khua động cũng diễn tả đầy đủ cảnh vật , không dông dài , nhưng luôn luôn đủ ý .Như vậy Haiku là một loại thơ thiền , một cách tập nhìn sự vật đơn giản , thuần khiết . Ðây là một quan hệ biện chứng giữa tĩnh và động như một công án, một tiếng chuông chiêu mộ thức tỉnh ngộ tính con người.
Thi nhân ghi lại những bức xúc của mình đối với sự biến chuyển trong khoảnh khắc của thiên nhiên đang xảy ra trước mặt. Vạn vật thì thường trôi nổi lững lờ đối với kẻ vô tình mà thật ra đang nói muôn triệu điều trong từng mỗi khắc giây. Người không thấy, người không nghe vì người không chịu nhìn, chịu nghe hay người không biết đấy thôi.
Haiku là một nghệ thuật tổng hợp tinh tế tuyệt vời giữa Phật giáo và Lão Giáo trong thế giới Thiền thi, giữa cụ thể và trừu tượng, giữa ẩn dụ và phân tích, giữa thiên nhiên vũ trụ và nội tâm con người . Vạn vật và vũ trụ đều có nguồn gốc từ Đạo, theo sự sinh hóa vô thường và kiếp người cũng chỉ là phù sinh hư ảo . Điều nói ra được thì hữu hạn, mà ý lại vô hạn . Ðiều mà thơ muốn mọi người lãnh hội chẳng phải là điều có thể nói được mà là những điều mà thơ chưa nói ra . Cái tiểu vương quốc của những con chữ gò bó chải chuốt bỗng vươn mình ảo hóa trở thành một vũ trụ siêu hình .Trong thơ Haiku có sự dung hợp giữa Thiền và Thơ, vì thơ biểu lộ tình cảm và thơ có thể tải đạo . Thơ Haiku đi từ một sự vật cụ thể thật nhỏ nhoi tầm thường để dẫn dắt người đọc đi vào cõi mênh mông bát ngát không hình tượng , như một thiền sư đã nói : "Gom góp tất cả lời nói để hoàn thành một câu, vò cả đại thiên thế giới thành một hạt bụi" . Nhà thơ William Blake cũng có nói : “Cả vũ trụ trong một hạt cát (a world in a grain of sand)”.
"Từ trong hạt bụi ngu ngơ ấy
Mưa nắng vô thường sây sát nhau ."

Ðể cuối cùng người thơ đốn ngộ được :
"Từ trong hạt cát hằng sa đó
Vũ trụ Chân Như sáng nhiệm mầu ."


Mùa trong thơ Haiku

Phần lớn thơ Haiku của các thi sĩ Nhật Bản nói về bốn mùa xuân, hạ, thu, đông , tuy không nêu ra hẳn tên mùa trong năm. Họ thường dùng những chữ liên quan đến mùa xuân, như “tan tuyết,” lúc “hoa mận nở, hoa đào nở,” hoặc đến lúc “ngỗng trời quay về.” Về mùa thu, họ hay tả “đêm thanh, trời vằng vặc đầy sao,” lúc “bóng nai thoáng qua rừng,” hay là “chuồn chuồn bay chập chờn,” khi người ta “gặt lúa.” Mùa hè có “muỗi,” có tiếng “ve ra rả,” hoặc tiếng “quạt,” hay tiếng “suối róc rách.” Mùa đông không tránh được cảnh “tuyết rơi” trong hay ven “rừng thông,” “gấu,” hay là tiếng củi hoặc than nổ tí tách trong “lò sưởi.” Và hình như các tác giả Haiku người Nhật không bao giờ nói đến lũ lụt, động đất, bệnh tật ... những cái không tốt của thiên nhiên.
Miura Chora diễn tả mùa hạ đang reo trên muôn ngàn nhánh cây, với lá xanh thắm sáng rực trong nắng vàng :
Vàng phai
cùng với ngàn xanh
nghe ngày tháng cũ theo quanh nẻo về.

Một bài Haiku khác của Yosa Buson ghi lại sự liên tưởng của ông giữa lá non và thác đổ. Hãy tưởng tượng đến vào một buổi trưa nào đó lúc mới đầu hè, xuân đã qua nhưng lá vẫn còn đang trong thời kỳ nẩy nở, trời chưa nóng lắm. Nhìn nụ xanh Buson mường tượng đến nguồn nước đã nuôi nấng cỏ cây, tắm mát con người trong tháng hạ. Ngay lúc đó, sự liên tưởng đến nước khiến ông nghe văng vẳng tiếng thác đổ gần đâu đó. Nước thác vẫn rơi đều nơi chốn ấy tự ngàn xưa nhưng hình như đối với Buson cho đến giây phút này ông mới vừa nghe hoặc nghe tiếng thác rõ hơn. Đây chỉ là một trong nhiều cách diễn dịch:
ụ non lá nhú lên mầm
thác reo
nghe thoảng xa gần đâu đây.

Mùa hạ thì có tiếng ve kêu như được đá hấp thụ và người đọc cảm thấy không gian xung quanh thật tĩnh lặng:
Tiếng ve kêu râm ran
Như tan vào trong than trong đá
Ôi, sao tĩnh lặng quá!

Mùa thu khi ăn được một quả hồng thì cảm thấy như nghe được tiếng đại hồng chung của chùa Horiu:
Ta ăn một quả hồng
Vọng đâu tiếng chuông đồng Hô-riu
Lòng phấn chấn phiêu diêu!!!


Hình ảnh mẹ trong thơ Haiku

Ngoài những đề tài về thiên nhiên, Haiku còn có đề tài về mẹ. Hình ảnh nầy thường thấy ở trong thơ Issa và Basho. Mẹ là thơ. Mẹ và thơ mãi khắn khít nhau như hình với bóng. Hình ảnh mẹ càng cần cù, mộc mạc bao nhiêu lại càng nên thơ bấy nhiêu. Trong ngôn ngữ thi ca của thế giới, dân tộc nào cũng có những vần thơ chứa chan tình mẹ. Mẹ hiển hiện trên đường về, trên từng ngõ hồn sâu kín. Mẹ là chất liệu kết tinh của tất cả những thiên anh hùng ca, những đại sử thi, những trường thiên tình sử và cả trong những vần thơ Haiku đơn sơ, thâm thúy Hình ảnh mẹ trong thơ Haiku lại càng bát ngát, phiêu diêu hơn bao giờ hết:

Đến đây nào, với tôi
cùng chơi đùa chim sẻ
không còn mẹ trên đời.

Issa

Mẹ yêu ơi !
mỗi khi nhìn thấy biển
khi thấy biển khơi.

Issa

Tóc mẹ còn đây
tan trong lệ nóng
sương mùa thu bay.

Issa

Hoa trong thơ Haiku

Qua bài "Cánh hoa anh đào muôn thuở" Busho đề cập đến vấn đề vô thường:
Nhiều chuyện
làm nhớ lại
Hoa anh đào

Hoa anh đào đối với người Nhật có ý nghĩa đặc biệt, nhìn hoa anh đào khiến người ta chợt nhớ bao mùa hoa anh đào trong quá khứ. Còn nói theo ngôn ngữ nhà Phật, hoa anh đào là biểu tượng của sự vô thường trong cuộc đời.
Một bài thơ Haiku khác nói lên hình ảnh của một loài hoa mong manh, mang kiếp sống phù du, giữa màn đêm sương khói huyền ảo, âm thầm lặng lẽ hé nở những cánh mỏng lụa là, như đem sức sống cuộn trào vào từng hơi thở của người thưởng ngoạn, phải chăng đó là một niềm hy vọng bí ẩn, khó hiểu của một loài hoa kiều diễm mang tên Nữ Hoàng Đêm . Người thơ hình như đã nhập thân vào loài hoa khêu gợi đó, để từ đó chiêm nghiệm được quá trình nở hoa " sinh sinh hoá hóa" từ bên trong : khởi đầu một cành cây trơ … đến một cái gì nhu nhú dưới phiến lá …. rồi xuất hiện một nụ trắng ngà … từ đó nụ tung cánh bung xòe ra… và cuối cùng là hoa mãn khai toàn vẹn với những cánh xinh xắn nõn nà tỏa hương thơm ngan ngát …
Nữ Hoàng Đêm mảnh khảnh
Trong âm thầm hé nụ phô hoa
Niềm tin yêu huyền bí

Với màu sắc trắng nhợt nhạt biểu tượng cho sự ngây thơ khờ dại, loài hoa đêm lộng lẫy khát khao nầy đang chờ đợi khai hoa nở nhụy…. đâu biết rằng kiếp sống tạm bợ ngắn ngủi đó sẽ đến hồi chấm dứt khi bình minh chợt sáng, chẳng khác gì bóng câu qua cửa sổ, giọt sương hư ảo trên cành … Những thi ảnh trữ tình, những biểu tượng thâm thúy, những tín hiệu bàng hoàng đã thu hút và dẫn dắt tâm tư người đọc vào một thế giới cao siêu để tự suy niệm về kiếp nhân sinh của con người quanh quẩn trong cuộc sống phù trầm đầy oan khiên nghiệp chướng nầy .
Cánh hoa mềm êm ái
Thơm ngát, cầm mình giữa bụi gai
Trước bình minh chịu chết

Nắng đã lên , những giọt sương mai lãng đãng, đang vắt vẻo trên nhành cây đọt lá . Những cánh hoa tàn úa đang rơi rụng . Một loài hoa đã chết và một ngày mới bắt đầu . Những hình ảnh của loài hoa mờ ảo đó , không sôi động mà vẫn lặng lẽ ẩn mật trong tâm cảm và tư duy của người thưởng ngoạn , để rồi đem lại những cảm giác lạ lẫm đột nhiên bỡ ngỡ, bàng hoàng, sững sốt giữa níu kéo và hoài nghi …
" Ta ngỡ mất mà chưa đành đánh mất
Bởi mùi hương ngự trị cánh hoa tàn ….."

Một bài thơ Haiku, một bông hoa quỳnh nở rồi tàn, một kiếp phù sinh, một giấc mộng hoàng lương…
" Phù bào khoảnh khắc vòng sinh diệt
Sớm nở đêm tàn tựa kiếp hoa…"

Cái sân khấu tuồng đời đầy hỷ nộ ái ố, tham sân si đã hạ màn theo những cánh hoa tàn ,để lại ngơ ngẩn , bần thần và luyến tiếc …
 

Tóc Xanh

Độc nhất vô nhị
Staff member
Vip Member
#8
Đặc trưng của tản văn

Từ “Tản văn” được dùng theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, tản văn chỉ tất cả những thể loại ngoài thơ ca, bao gồm tác phẩm văn học và luận văn khoa học, văn bản hành chính công vụ. Theo nghĩa hẹp, tản văn được dùng với ý nghĩa văn học thuần túy, là một thể loại văn học bên cạnh thơ ca, tiểu thuyết, kịch, thường gọi là “tản văn văn học” hoặc “tản văn nghệ thuật”. Loại tản văn này là thể loại văn học chú trọng việc ghi lại những gì đã trải qua, đã nghe thấy, cảm thấy, thể nghiệm liên tưởng của cái tôi hoặc ghi lại những câu chuyện, những trạng thái cảnh vật hoặc trữ tình hoài niệm; là loại tác phẩm văn học giàu tính trữ tình, rộng rãi về đề tài, tinh túy về nội dung, khuôn khổ tương đối nhỏ, ngôn ngữ tự nhiên mới mẻ, thủ pháp biểu hiện linh hoạt, văn phong sáng sủa.



Tản văn văn học trên ý nghĩa hiện đại lại có lịch sử phát triển không dài. Năm 1917 Lưu Bán Nông trong Quan niệm cải lương về văn học của tôi: đã xác định “tản văn văn học” là một khái niệm, ông nói: “cái gọi là tản văn, cũng gọi là tản văn văn học, nhưng là tản văn không lời”(Lưu Bán Nông: niệm cải lương về văn học của tôi, xem Tư liệu tham khảo văn học hiện đại Trung Quốc, tập 1, quyển thượng. Nxb Giáo dục cao đẳng, 1959, tr 35), nhưng trong tản văn như lời ông nói còn bao hàm cả tiểu thuyết, tạp văn cho nên khái niệm tản văn văn học không thực sự rõ ràng. Tháng 6 năm 1921, Chu Tác Nhân với bút danh Tử Nghiêm đã phát biểu một bài luận ngắn về “Mĩ học”, trong đó, từ phương diện thể văn, xác nhận vị trí độc lập của tản văn văn học, chỉ ra, loại tản văn này “là thể loại văn học mang tính nghệ thuật, còn gọi là thể văn sáng tạo cái Đẹp. Nó có thể được phân ra thành tự sự và trữ tình, nhưng hai loại này thường xuyên xuyến thấm vào nhau”. (Tử Nghiêm (Chu Tác Nhân): Mĩ học, xem Lí luận tản văn hiện đại Trung Quốc, Nxb Nhân dân Quảng Tây, 1984, tr3). Kiếm Tam (Vương Thống Chiêu), năm 1923 đã gọi nó là “tản văn thuần nhất” (pure prose).
Tản văn có những đặc trưng thẩm mĩ sau:
Thứ nhất: đặc trưng thẩm mĩ nổi bật của tản văn là tính trữ tình. Nhà văn sở dĩ có thể sáng tác tản văn là do có “cảm nhận” mà “giãi bày”, do những gì nhà văn nhìn thấy, cảm thấy, cảm xúc, cảm động, hưng phấn, cảm tưởng trong sinh hoạt, công tác học tập, đọc sách, suy nghĩ cho đến tham quan du lịch. Tản văn đòi hỏi phải có “cảm nhận” mới có “giãi bày”, cho nên nó tất yếu viết về những gì nhà văn tự mình trải qua, tự mình cảm thấy, cái có trong nội tâm của mình. Nếu như tiểu thuyết là viết về những sự việc của người khác thì tản văn lại là viết về những sự việc của chính mình, cho dù có viết về người khác thì trên thực tế cũng là viết về chính mình. Trên một ý nghĩa nào đó, cái mà tiểu thuyết viết là cái ngoài bản thân, nhưng phần lớn cái mà tản văn viết lại là sự việc trong tim của tác giả; tiểu thuyết rất dễ chạm đến, tản văn lại khó gặp, nó cơ hồ là sự phân thân của nhà văn, là ghi lại rất thật sự hư cấu ngay trong bản thân nhà văn. Về tản văn chính là sự biểu lộ ra một cách linh hoạt, nên tính chân thực là sinh mệnh, xác thực là linh hồn, chân thành là căn bản của tản văn. Đối với sáng tác tản văn, đề tài là cái có thể gặp nhưng không thể cầu, tản văn muốn bám vào chính con người, cho nên tất yếu sẽ phải dựa vào tình cảm chân thành, thể nghiệm độc đáo, mà tất cả những điều này đều yêu cầu một sự lịch duyệt trong cuộc sống và kinh nghiệm nghệ thuật tương đương, không được cóp nhặt chắp vá. Có lẽ chính vì thế nên mới lưu hành cách nói thiếu cơ sở: “tản văn là thể văn lâu đời”.
Thứ hai: Tản văn là thể văn tự do phóng túng nhất. Tất cả những yếu tố của thể loại, đối với tản văn đều hết sức tự do, phóng túng, bất luận là chọn đề tài, lập ý hay là bố cục kết cấu, hay vận dụng thủ pháp biểu hiện, nó đều ít có tính quy phạm, cách thức, hạn chế, tất cả đều lấy cảm nhận và giãi tác giả làm trung tâm(…157). Hồ Mộng Hoa đã từng đề xuất khái niệm “tản văn tản mạn”. Ông chỉ ra: “Loại tản văn này là loại tản văn có logic, lập luận chặt chẽ, là loại văn chương lí giải. Trong tác phẩm luôn có nghị luận logic, thậm chí tranh luận kịch liệt, nhưng nó không giống văn phê bình hay văn lí luận với thái độ trang nghiêm, khiến người đọc dường như thấy trên giấy lộ ra dáng vẻ đầy sự tức giận, phấn khích, lộ ra hình dạng trợn mắt, nghiến răng. Nó cũng là lời nói tào lao vui vẻ tản mạn của con người”. Ông còn nói thẳng ra rằng, viết tản văn “cũng giống như anh xem báo hoặc nghe những tin tức gì đó từ bên ngoài đưa về, nghe những lời nhỏ nhẹ của mẹ, của vợ, của bạn thân quanh bàn trà, điếu thuốc”. Trần Thúc Hoa đã gọi văn tiểu phẩm tản văn là “thể văn có ngôn từ điêu luyện, là “nói chuyện trên giấy”, “văn học đàm thoại”. Ông nói: “Tác giả của thể văn này giống như người bạn thân, ngồi bên suối nhỏ, ngồi dưới bóng cây, ngồi bên đống lửa đêm đông, lấy đề mục tương ứng làm phương tiện biểu lộ chính mình”. Thậm chí ông còn mượn lời của Yisilite: “tác giả mặc áo ngủ, đi dép lê, độc giả ẩn sau cánh gà”(Trần Thúc Hoa, Giải thích về văn tiểu phẩm có ngôn ngữ tinh luyên, xem Bàn về nghệ thuật văn tiểu phẩm, Nxb Phát thanh truyền hình Trung Quốc, 1990. tr 271).
Thứ ba: Tính đa dạng về dạng thức và đề tài. Đề tài của tản văn đặc biệt rộng lớn, cơ hồ như không gì nó không nói đến, như: lịch sử, hiện tại, tương lai, tự nhiên, xã hội, nhân sinh, sự kiện, cảnh vật, tình cảm, tinh thần, ngôn luận, thiên văn, địa lí, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, triết học; rộng như biển, nhỏ như cây cỏ, không có gì là không thể đưa vào ngòi bút của người viết tản văn; bất luận là tìm hiểu vũ trụ, than thở về nhân sinh hay là cỏ cây hoa lá, cá mú chim muông; bất luận là sắt tấm đồng thanh, hay nước chảy cầu nhỏ, gió sớm trăng tàn, tất cả đều có thể trở thành đề tài của tản văn. Với sự vận tứ điêu luyện của một số nhà văn, tản văn lại có thể bao hàm triết lí sâu sắc, tình ý đậm chất thơ, từ đó tạo ra sức hấp dẫn đối với người đọc. Sự rộng lớn về đề tài của tản văn vượt qua tất cả các thể loại văn học khác, do đó người ta gọi tản văn là “viện bảo tàng của cuộc sống”. Cách nói này không có nghĩa tản văn là sự sắp xếp nhỏ lẻ, nó cũng có thể có tiếng vang và vị thế lớn, nó cũng là thể văn lành mạnh và phóng túng, có thể lấy tinh thần thời đại, xu hướng thẩm mĩ mới và tinh thần phê phán để đưa ra cái nhìn thẩm mĩ đối với lịch sử, hiện thực. Chính trong tình huống này, người ta đã đề xuất khái niệm “tản văn lớn”, giới tản văn cũng lại một lần nữa kêu gọi tản văn phải có biên giới rộng.
Dạng thức của tản văn rất phồn tạp, hình thức phong phú, không bó buộc vào một khuôn phép, bao gồm: tùy bút, văn tiểu phẩm, tốc kí, đặc tả, du kí, phóng sự, hồi kí…. Khuôn khổ của nó thường nhỏ, tản văn cổ đại thông thường chỉ 100 chữ, tất cả chỉ 100 chữ- rất ngắn, tản văn hiện đại cũng chỉ có mấy nghìn chữ. Hình thức thể loại tản văn hết sức linh hoạt, nó có liên hệ giao nhau với các thể loại khác, nó tự học theo các thể loại khác, viết lảnh lót như thơ, hùng tráng như quân ca, khúc chiết sinh động như tiểu thuyết. Trà hoa phú của Dương Sóc đã học tập dạng thức của thể loại văn học kịch, tiểu thuyết, thơ ca. Dạng thức thể loại của tản văn vì vậy mà khác thường, có tính tạo hình rất lớn.
Thứ tư: kết cấu của tản văn rất tự do. Kết cấu của tản văn không chú ý vào “khai, thừa, chuyển, hợp” như thơ ca, không phân cảnh phân hồi như kịch, mà có lúc gần lúc xa, lúc trước lúc sau, hiện thực và lịch sử, tự nhiên và xã hội có sự giao thoa, triết lí sâu sắc có thể biểu hiện ngay trong cuộc sống hằng ngày, tình cảm nồng nàn được thể hiện thông qua tưởng tượng của cá nhân, thậm chí trên trời dưới đất, trần gian biên giới đều có thể liên kết vào một điểm. Đặc điểm tự do trong kết cấu này của tản văn khiến người đọc có cảm giác tản mạn, nhưng cái “tản” này không phải là lộn xộn không có trật tự, không có tính văn chương, mà là trong cái tản mạn có tật tự, trong cái tản mạn có văn chương. Cái trật tự ở đây là chỉ tác giả đã căn cứ vào ý đồ sáng tác của mình và nhu cầu biểu hiện, đem toàn bộ sự tổ chức có trật tự chứ không hề lộn xộn rối ren làm cho nó có “thần”, trong lí luận về tản văn, người ta gọi điều này là “hình tản mà thần tụ”. Nói như vậy thì xét ở phương diện bề mặt, những điều mà tản văn viết dường như là trời Nam đất Bắc, thời trước thời sau, vô biên vô giới, vô cùng tản mạn, người ta gọi là “hình tản”, nhưng lại rất thống nhất về chủ đề, tình cảm, tư tưởng (mặc dù tản mạn về tài liệu, hình thức, thủ pháp…), người ta gọi là “thần tụ”. Tản mạn là hiện tượng bên ngoài, thần tụ là bản chất bên trong. Đó mới là cái căn bản trong kết cấu rất tự do của tản văn.
Thứ năm: Ngôn ngữ tản văn bóng bẩy, trong sáng, súc tích, tươi mới, tự nhiên. Tản văn không lấy hiệu quả ở tình tiết, cũng không lấy nhân vật để khắc họa sự hiểu biết, đồng thời cũng không yêu cầu có tình cảm đặc biệt mãnh liệt như thơ, đề tài của tản văn tuy rộng nhưng cái rộng lớn đa dạng của nó là những điều bên ngoài mà tác giả tự mình nhìn thấy, nghe thấy, suy nghĩ, mong muốn, cảm thấy, xúc động và cuộc sống thường nhật cho đến những hiện tượng khác. Loại nội dung và yêu cầu thể loại nhàn nhã tự tại của nó rất hợp với ngôn ngữ tự nhiên, tươi mới, gọn gàng, bóng bẩy. Tản văn miêu tả nhân vật phải sinh động như cuộc sống, rõ ràng như đang hiện ra trước mắt, truyền đạt âm thanh phải giống hệt; tình cảm biểu hiện thì phải chân thực thiết tha, tế nhị; thuyết lí nghị luận phải vừa trang trọng vừa hài hước, thú vị, không cần kiểu cách mất tự nhiên, không cần che đậy, tất cả phải lên xuống tự do như mạch đập của con người, như tiếng nước chảy trong khe núi.
Chủng loại của tản văn rất phong phú đa dạng, bất kể từ góc độ nào, căn cứ nào đều có thể chia tản văn thành rất nhiều loại. Thông thường thì người ta căn cứ vào đối tượng và hình thức thể hiện để chia tản văn thành ba loại: tản văn tự sự, tản văn trữ tình, tản văn nghị luận.
Tản văn tự sự vẫn lấy sự kiện, nhân vật, cảnh vật làm nội dung biểu đạt chủ yếu, lấy sự trần thuật miêu tả làm phương thức biểu đạt chủ yếu. Nó chú trọng kể việc, ghi người, tả cảnh nhưng cũng không giống như kể việc ghi người tả cảnh trong tiểu thuyết. Kể chuyện trong tản văn chỉ là trần thuật một số phiến đoạn của sự kiện; ghi người chỉ là ghi một số mặt quan trọng của nhân vật, tả cảnh chỉ là tả một số phương diện nào đó của cảnh vật; hơn nữa, những sự việc, con người, cảnh vật này đại đa số chỉ là những sự việc, con người, cảnh vật mà tác giả đã tiếp xúc qua, tác giả thường lấy nhân xưng ngôi thứ nhất “Tôi” làm sợi dây liên kết những phiến đoạn của sự kiện, những mặt nào đó của nhân vật, phương diện nào đó của cảnh vật; thủ pháp miêu tả thường là vận dụng lược thuật và phác họa, ngôn ngữ ít ỏi cốt chỉ vẽ ra tình trạng của sự kiện, thần thái của nhân vật, đặc sắc của cảnh vật. Tản văn tự sự chia thành: tản văn kí sự, tản văn ghi người, tản văn tả cảnh.
Tản văn trữ tình là tản văn lấy sự bộc lộ tư tưởng, tình cảm của tác giả làm chủ đạo, điều căn bản của nó là bộc lộ tình cảm. Trữ tình ở đây đã chỉ ra nội dung chủ yếu của nó là tình cảm, đồng thời cũng chỉ ra thủ pháp biểu hiện chủ yếu của nó là trữ tình. “Tình” trong tản văn trữ tình chiếm vị trí vô cùng quan trọng. Tản văn trữ tình ưu tú phải lấy “tình” làm sợi dây sắp đặt kết cấu, tính chủ quan của nó đặc biệt mãnh liệt. Ở phương diện này, tản văn trữ tình và thơ trữ tình có điểm giống nhau, nhưng tản văn trữ tình khác với thơ trữ tình ở chỗ không trực tiếp bộc lộ nỗi lòng mà phần nhiều là sự việc sinh tình cảm, mượn cảnh nói tình, lấy vật để nói chí, “tình” của nó phải có cái dựa vào, tình thấm vào trong cảnh và vật rồi bộc lộ ra, tình cảm chủ quan và cảnh vật khách quan nhập vào làm một. Ngoài ra tình cảm trong tản văn trữ tình không tập trung như thơ trữ tình, nó thường là sự trải rộng của tư tưởng tình cảm trong một tổ chức, sắp xếp hết sức công phu của tài liệu. Ngôn ngữ tản văn khác ngôn ngữ thơ trữ tình là điều đã quá rõ ràng.
Tản văn nghị luận là tản văn lấy việc nói rõ đạo lí, biểu đạt điều mình nhìn thấy làm nội dung chủ yếu, lấy nghị luận làm thủ pháp biểu hiện cơ bản. Tản văn nghị luận bám chắc vào sự kiện, nhân vật, hiện tượng có ý nghĩa điển hình phong phú trong đời sống, lấy sự đồng tình của bản thân nhà văn và những tư tưởng, kiến giải, chủ trương làm cơ sở lập luận, dùng ngôn ngữ sinh động giàu tính văn học, dùng cách viết trong sáng rõ ràng để khái quát đặc điểm, chỉ rõ bản chất, làm nổi bật quy luật, do đó, tản văn nghị luận có tính khuynh hướng tư tưởng rõ ràng và sắc thái tình cảm mãnh liệt. Tản văn nghị luận bao gồm tạp văn, văn tiểu phẩm, tùy bút….
 

Tóc Xanh

Độc nhất vô nhị
Staff member
Vip Member
#9
Thơ văn xuôi hay là thơ không vần

(Nguyễn Trọng Tạo)

Con người sau khi tạo ra ngôn ngữ giao tế, đã đi một bước cao xa hơn là sáng tạo ra ngôn ngữ nghệ thuật mà trong đó nghệ thuật văn chương bao gồm ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi. Theo các nhà ngôn ngữ học thì ngôn ngữ thơ thuộc tính biểu hiện và ngôn ngữ văn xuôi thuộc tính tạo hình: “Tạo hình chủ yếu là vương quốc của văn xuôi nhưng có một khoảng trời giành riêng cho sử thi và thơ ứng dụng, còn biểu hiện trước hết là lãnh địa của thơ nhưng lại cắt một phần đất cho văn xuôi trữ tình”. (Nguyễn Phan Cảnh). Có nghĩa thơ là thơ, và văn xuôi là văn xuôi.

Vậy mà hơn nửa thế kỷ nay ở ta đã làm quen với cụm từ Thơ văn xuôi từ những bài thơ đầu tiên của Phan Khôi hay Tương Phố. Thực ra đấy là một thuật ngữ du nhập từ phương Tây, nó bắt nguồn từ những câu thơ thác nước tuôn dài mãnh liệt, những câu thơ như những con sóng biển từ đại dương cuộn xô vào bờ biển, những câu thơ đồ sộ kiểu Whitman hay những câu thơ cuộn trào cảm xúc triết học kiểu Tagor, và thường là nó được trình bày dưới hình thức văn xuôi, chỉ xuống dòng sau khi đã tạo ra chiết đoạn, chữ không xuống dòng theo hình thức thơ có vần hoặc không vần. Như vậy hai chữ văn xuôi trong thuật ngữ thơ văn xuôi chỉ mang ý nghĩa hình thức ước lệ mà thôi.

Thực chất thơ văn xuôi chính là thơ không vần, hay nói cách khác nó là biến cách của thơ – không vần. Mà thơ không vần trước hết nó là thơ thoát ra ngoài qui tắc của vần luật nhưng vẫn ràng buộc bởi nhịp điệu (tiết tấu) và âm thanh (trầm bổng) của thơ, mà ta vẫn thường gọi là nhạc điệu. Nhờ vào tính chất đặc trưng đó mà phân biệt thơ văn xuôi (thơ không vần biến cách) với văn xuôi giàu “chất thơ“.

Ở ta có người nhầm lẫn khi ghép những dòng thơ có vần lại với nhau dưới hình thức văn xuôi và gọi đó là “thơ văn xuôi”; lại có người viết một mẩu văn xuôi giàu chất thơ rồi bảo đấy là thơ “thơ văn xuôi” để chứng minh rằng mình làm thơ không đến nỗi nghèo nàn về hình thức! Sự nhầm lẫn đó làm phương hại đến loại thể thơ văn xuôi vốn hình thành bởi nhu cầu nội tại của nhà thơ” mà chỉ có bằng cách đó ngôn ngữ mới chứng tỏ được khả năng của nó” (Tsvetaeva).

Dù thơ văn xuôi đã trở thành một thuật ngữ ở phương Tây, và đã lây lan ít nhiều sang phương Đông, nhưng tôi vẫn cảm thấy hai từ văn xuôi dùng vào hình thức này khá bất ổn, nó dễ gây ngộ nhận, nhầm lẫn về bản chất thơ từ cái gọi hình thức, từ đó mà bản chất thơ bị văn xuôi xâm thực. Mà bản chất thơ theo Hegel thì “Xét về nội dung nó là một nghệ thuật phong phú nhất, không bị hạn chế nhất”, hoặc theo V. G. Bielinski thì “Thơ là loại hình nghệ thuật cao nhất… “. Quả vậy, khi tôi đọc Charles Simic:

“Người đàn ông bị xử hình từ đoạn đầu đài bước xuống, ông ôm chặt cái đầu của ông đang chảy máu ròng ròng.
“Lúc ấy táo trong vườn trổ hoa rạo rực. Người đàn ông tìm về quán rượu trong làng.
“Ông ngồi xuống và gọi hai cốc bia. Một cốc cho ông và một cốc cho cái đầu ông đã lìa khỏi cổ… ” v.v…

Thì dù Simic có gọi theo thói quen là thơ văn xuôi, tôi vẫn chỉ hiểu đó là THƠ, là THƠ KHÔNG VẦN, hay là THƠ KHÔNG VẦN BIẾN CÁCH mà thôi.

Thú thực là tôi không thích thú gì khi người ta gọi loại thơ đó là thơ văn xuôi. Thỉnh thoảng tôi có làm một số bài thơ dưới hình thức đó, nhưng tôi chỉ thích gọi nó là Thơ không vần.
 
Status
Not open for further replies.